Ơ Ở Ý Ề Ệ Q Ả Ộ Ả X Ấ KINH DOANH TRONG D Ệ 1. Hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp 1. Khái quát về doanh nghiệp 1. Khái niệm doanh nghiệp Hiện nay có khá nhiều định nghĩa thế nào là doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều mang trong nó một nội dung và giá trị nhất định.
Theo quan điểm luật pháp, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Theo đó, quá trình kinh doanh phải được thực hiện một cách liên tục, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Theo quan điểm chức năng, doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất khác nhau do nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy.Francois Peroux) Theo phương diện phát triển, “doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được”.A alliat) Ngoài ra còn có thể liệt kê hàng loạt những định nghĩa khác nữa khi xem xét doanh nghiệp dưới những góc nhìn khác nhau.
Song giữa các định nghĩa về doanh nghiệp đều có những điểm chung nhất, nếu tổng hợp lại có thể phát biểu về định nghĩa doanh nghiệp như sau: oanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi nhuận của chủ sở hữu. Các loại hình doanh nghiệp ũng giống như khái niệm doanh nghiệp, căn cứ vào mỗi hình thức, doanh nghiệp được phân loại thành nhiều loại hình khác nhau bao gồm các loại hình doanh nghiệp chính như sau: Công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên là doanh nghiệp trong đó: thành viên có thể là tổ chức, cá nhân và số lượng thành viên không quá năm mươi; thành 1 viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp. Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất hai thành viên hợp danh, ngoài hai thành viên hợp danh có thể có các thành viên góp vốn, thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp, phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước làm chủ được thành lập và hoạt động bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Khái niệm hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp Hiện nay, sản xuất được coi là một quá trình tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ.
ối với nhiều người, thuật ngữ sản xuất làm liên tưởng đến những hình ảnh về nhà xưởng, máy móc hay các dây chuyền lắp ráp. Thực chất, một hệ thống sản xuất sử dụng các yếu tố đầu vào như nguyên vật liệu thô, con người, máy móc, nhà xưởng,. để chuyển đổi nó thành sản phẩm, dịch vụ. Trong doanh nghiệp, sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ được sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hoặc có khả năng cung cấp cho một đơn vị khác.
Kinh doanh, được hiểu là “Việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. Hoạt động kinh doanh trong một số trường hợp được hiểu như hoạt động thương mại, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư nhằm mục đích sinh lợi. Nhìn chung, kinh doanh là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hóa, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất. Trong nền kinh tế thị trường, khái niệm sản xuất được hiểu theo nghĩa rộng hơn, bao gồm quá trình tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ tức là đầu tư bao gồm cả vật thể và 2 Thang Long University Library phi vật thể.
Sự chuyển hóa các đầu vào thành các đầu ra được thực hiện nhằm mục tiêu lợi nhuận đó là hoạt động sản xuất kinh doanh. Vai trò của hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của hoạt động SXKD ngày càng được khẳng định. ối với mỗi quốc gia, hoạt động SXKD là công cụ giúp tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước thông qua hoạt động thu thuế. Bên cạnh đó, đây cũng là hoạt động nhằm thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài vào quốc gia.
Như vậy có thể thấy hoạt động kinh doanh chính là biểu hiện rõ ràng nhất về tình hình phát triển của một quốc gia. ối với một doanh nghiệp, một cá thể của nền kinh tế thì hoạt động SXKD là hoạt động mang lại doanh thu cho doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh còn là tiền đề, là cơ sở để doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Trong cơ chế thị trường, sự cạnh tranh luôn rất khốc liệt, vì vậy doanh nghiệp muốn tồn tại được thì hoạt động SXKD phải vững bền và phát triển.
ối với xã hội, hoạt động SXK là nơi tạo ra việc làm, thu nhập cho người dân, giải quyết các vấn đề việc làm trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, hoạt động SXKD còn giúp nhà nước và xã hội vận dụng được tối đa nguồn lực sẵn có về con người để đưa nền kinh tế và quốc gia phát triển. Tóm lại, hoạt động SXKD có vai trò quan trọng đối với mọi đối tượng trong một quốc gia. Một quốc gia phát triển hay không phát triển một phần là do hoạt động sản xuất kinh doanh quyết định.
Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Nhắc đến hiệu quả hoạt động SXKD trong doanh nghiệp, chắc hẳn sẽ có nhiều ý kiến cho rằng đây là hoạt động kinh doanh có lãi. Tuy nhiên, cách nhìn này chỉ là sự tổng kết về kết quả cuối cùng của một chu kỳ kinh doanh. Vì vậy, để hiểu rõ bản chất của hiệu quả, chúng ta cần phân biệt được khái niệm hiêu quả và kết quả hoạt động SXKD.
Hiệu quả là chỉ tiêu phản ánh mức độ thu lại được kết quả tương ứng với nguồn lực phải bỏ ra trong quá trình thực hiện một hoạt động nhất định. Kết quả thường được biểu hiện bằng giá trị tổng sản lượng doanh thu hoặc lợi nhuận. Yếu tố đầu vào bao gồm lao động, chi phí, tài sản và nguồn vốn. Quan điểm này cho thấy hiệu quả hoạt động SXKD phải dựa vào cả đầu ra và đầu vào, đó là khi doanh nghiệp mang về được nhiều doanh thu hơn chi phí bỏ ra, nó phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực nhằm thực hiện các mục tiêu kinh doanh.
Tóm lại, hoạt động hiệu quả sản xuất kinh doanh là một pham trù kinh tế nhằm phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất mức chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Hiệu quả 3 hoạt động SXKD không chỉ là thước đo trình độ tổ chức quản lý kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp. Phân loại hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh ể phân loại hiệu quả hoạt động SXKD chúng ta dựa vào hai tiêu chí: phân loại theo tính chất và phân loại theo thời gian. Theo tính chất, hiệu quả hoạt động SXKD bao gồm hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận.
Hiệu quả kinh doanh tổng hợp phản ánh khái quát về kết quả hoạt động sau toàn bộ quá trình SXKD của các daonh nghiệp hoặc một bộ phận nào đó trong thời kì xác định. Còn hiệu quả SXKD bộ phận là hiệu quả chỉ xét ở từng lĩnh vực hay hoạt động cụ thể như sử dụng tài sản, liên kết bán hàng,. Theo thời gian, hiệu quả hoạt động SXK được chia thành hai loại là ngắn hạn và dài hạn. Hiệu quả ngắn hạn được xem xét ở từng khoảng thời gian ngắn, tùy theo cách giới hạn của doanh nghiệp như tuần, tháng, quý,.
Ngược lại, hiệu quả dài hạn được thống kê sau khoảng thời gian có thể kéo dài 5 năm, 10 năm hay 20 năm,. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Hiệu quả hoạt động SXKD là một công cụ hữu hiệu để nhà quản trị thực hiện chức năng của mình. Hiệu quả hoạt động SXK là cơ sở để nhà quản trị phân tích, tính toán và tìm ra nhân tố quan trọng giúp doanh nghiệp phát triển, cũng như tìm ra nhân tố cản trở sự phát triển của doanh nghiệp để có biện pháp thích hợp. Việc đánh giá hiệu quả hoạt động SXKD giúp nhà quản trị có một cái nhìn tổng quan về tình hình của doanh nghiệp, từ đó có các biện pháp để tăng doanh thu và giảm chi phí.
Bên cạnh đó, hiệu quả hoạt động SXK cũng đánh giá hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào của doanh nghiệp.