Chương 1. ĐIỀU TRA TRI THỨC LUẬN Mục tiêu của chương là tổng hợp các công trình nghiên cứu đã có để làm rõ các đặc trưng tri thức luận của khái niệm TPXĐ, cụ thể là: Tiến trình xuất hiện của khái niệm TPXĐ trong lịch sử, các tổ chức toán học xuất hiện, các đối tượng toán học có liên quan đến khái niệm TPXĐ và nghĩa của khái niệm TPXĐ. Tiến trình xuất hiện của khái niệm tích phân xác định, cơ chế và hình thức thể hiện của nó Vào thời cổ đại, do nhu cầu đo đạc, tính toán trong nông nghiệp và xây dựng đã có các công thức tính diện tích một số hình đơn giản mà chúng ta dùng ngày nay như: Công thức diện tích tam giác (diện tích tam giác bằng ½ tích của chiều cao hạ từ đỉnh với độ dài cạnh đối diện của đỉnh đó), diện tích hình chữ nhật (diện tích hình chữ nhật bằng tích chiều dài nhân với chiều rộng), diện tích hình thang bằng trung bình cộng hai cạnh đáy nhân với chiều cao giữa hai đáy,….Vấn đề được đặt ra để tìm cơ sở lí thuyết và phương pháp tổng quát cho các bài toán có những hình phức tạp hơn (các hình có yếu tố cong) như các bài toán tính diện tích, tính thể tích, tính độ dài cung. Các nhà bác học như Democrite, Antiphone, Hippocrate de Chios, Eudoxe, Archimède, Cavalieiri, Roberval, Kepler, Fermat, Pascal đã có kỹ thuật để giải quyết các bài toán đó.
Qua nghiên cứu tri thức luận về khái niệm TPXĐ từ các công trình đã nghiên cứu. Chúng tôi xác định các tổ chức toán học (TCTH) xuất hiện trong tiến trình lịch sử hình thành khái niệm TPXĐ, trải qua ba giai đoạn. Giai đoạn 1: (từ cổ Hy lạp đến thế kỉ XVII – giai đoạn khái niệm tích phân xác định nảy sinh độc lập với khái niệm đạo hàm, giới hạn) Trong giai đoạn này, xuất hiện kiểu nhiệm vụ Tdt : Tính diện tích2, các kỹ thuật giải quyết cho KNV Tdt là: + Kỹ thuật : Kỹ thuật thuyết nguyên tử Công nghệ : Dựa vào thuyết nguyên tử3. 2 KNV tính thể tích, tính độ dài chúng tôi không trình bày, do trong lịch sử các KNV này được giải theo cùng một cách thức.
Theo Lê Thị Hoài Châu (2004, tr.14) “Do trong lịch sử cả ba bài toán đều được giải theo cùng một cách thức” 3 Thuyết nguyên từ do nhà bác học cổ Hy Lạp Democrite đưa ra, mọi vật thể đều cấu thành từ một tập hợp vô hạn các nguyên tử nhỏ bé mà ông gọi là “đại lượng cơ sở”. 10 Chúng tôi không tìm thấy tài liệu hay các công trình đã nghiên cứu mô tả chi tiết các bước thực hiện của kỹ thuật này. Theo Lê Thị Hoài Châu (2004, tr. 14), nhà bác học Democrite tính diện tích một số hình bằng cách chia nhỏ chúng.
Quan điểm của ông được xem là nguồn gốc của khái niệm vô cùng bé. Chúng tôi thấy rằng, với kỹ thuật tính diện tích TNT xuất hiện tư tưởng hình thành khái niệm TPXĐ. + Kỹ thuật : Kỹ thuật vét kiệt Giả sử B là hình cần tính diện tích B1: Chia hình B thành dãy các hình đa giác Ak nội tiếp hình B (Ak đơn điệu tăng, vét cạn hình B) và tính diện tích các hình đa giác Ak. B2: Tính tổng diện tích các hình Ak, kí hiệu là A (theo ngôn ngữ ngày nay là tìm giới hạn A).
B3: Kết luận diện tích của hình B chính là diện tích A (chứng minh A = B bằng phản chứng) Công nghệ : Dựa vào tiên đề Archimède “Nếu từ bất kỳ một đại lượng nào mà bỏ đi một phần không nhỏ hơn một nửa của nó, rồi từ chỗ còn lại lại bỏ đi một phần không nhỏ hơn một nửa của nó,v. thì cuối cùng sẽ còn lại một đại lượng nhỏ hơn bất kỳ đại lượng cùng loại nào được ấn định trước”. Ví dụ: Bài toán cầu phương đoạn parabol: A, B là hai điểm tùy ý thuộc một parabol. Tìm diện tích hình phẳng tạo bởi cung parabol A (AB) và đoạn thẳng AB.
b c B1: Chia hình viên phân BAC thành các đa giác nội tiếp G H viên phân : tam giác ABC , AHC , BGA ,…và tính diện K 1 1 tích các tam giác: S ABC SbBCc , S ABC SvpBAC , B E M F C 2 2 1 1 1 S AHC S ABC SAHC SBGA SABC ,… 8 8 4 1 1 1 B2: Tính tổng diện tích các tam giác U S S 2 S . Rồi thêm vào phần dư. S và sử dụng tính chất 3 4n 1 1 1 1 1 1 4 S S 2 S . Nếu số cạnh của đa giác nội tiếp tăng 4 4 4 3 4 3 1 1 lên thì phần dư.
S sẽ bé như mong muốn. 3 4n 1 11 4 B3: Chứng minh U S bằng phương pháp phản chứng 3 4 4 + Nếu U S , có n tam giác để cho U s , điều này mâu thuẫn với 3 3 4 1 1 4 U S . 3 3 4 3 4 4 + Nếu U S , nghĩa là S U 0 , có tam giác thứ m có diện tích 3 3 1 4 1 4 Sm m 1 S S U. Mà S S S U , dẫn đến S U.
Điều này mâu 4 3 m 3 m 3 thuẫn, vì U là diện tích đa giác nội tiếp trong hình viên phân parabol có diện tích S. 4 Kết luận U S 3 (tham khảo Nguyễn Thành Long, 2004) Xuất hiện tư tưởng hình thành khái niệm TPXĐ trong kỹ thuật vét kiệt. Kỹ thuật này chưa dùng đến tổng vô hạn của cấp số nhân hay phép toán giới hạn mà thay vào đó Archimède chứng minh tính đúng đắn của kết quả bằng phương pháp phản chứng. + Kỹ thuật : Kỹ thuật cơ học B1: Chia hình cần tính diện tích thành 1 số rất lớn các giải phẳng mỏng song song hoặc các lớp mỏng song song, chọn một hình phẳng đã biết tính diện tích (hình phẳng được tạo bởi các đường) và tính diện tích hình phẳng đã chọn.
B2: Tính tỉ số diện tích giữa các đoạn thẳng được tạo bởi hình viên phân và các đoạn thẳng được tạo bởi hình đã chia. B3: Kết luận Công nghệ : Sử dụng “Định luật đòn bẩy” của Archimède “Độ lớn của khả năng tác động lực tỷ lệ thuận với độ lớn của lực và đồng thời tỉ lệ thuận với khoảng cách từ điểm tác dụng lực tới tâm quay (cánh tay đòn)”.org/wiki/Archimedes) Ví dụ: Archimède giải bài toán cầu phương bằng kỹ thuật cơ học Giả sử viên phân parabol ABC , với B là đỉnh của viên phân 12 B1: Chia viên phân ABC như sau: + Dựng tiếp tuyến tại B song song với AC , sao cho BD vuông góc AC + Dựng tiếp tuyến tại C sao cho cắt BD tại E + Dựng tiếp tuyến tại A song song với BD và cắt CE tại F + Kẻ CB cắt AF tại K + Kéo dài CB đến H sao cho CK KH Suy ra CH là đòn bẩy có trung điểm K (theo định luật đòn bẩy của Archimède) + Chọn tam giác CFA để so sánh diện tích với viên phân ABC theo Định luật đòn bẩy ta có tam giác CFA bằng 4 lần tam giác ABC B2: Tính tỉ số diện tích giữa hai hình + Trong tam giác CFA , dựng MO / / ED như hình vẽ: MO CA Giả sử EB BD , ta có PO AO Giả sử KF KA , MN ON , CK chia đôi AF , ta có: MO CA KC KH PO AD KN KN MO KH Giả sử TG OP ( H là điểm ở giữa TG ), khi đó TG KN Suy ra N là trọng tâm của MO Theo định luật đòn bẩy: MO và TG sẽ ở trạng thái cân bằng về K (hay tam giác CFA được tạo bởi đường thẳng song song OP , viên phân ABC được tạo bởi đường thẳng song song OP. + Gọi điểm W là trọng tâm của tam giác CFA , tiếp tục đưa ra tỉ số giữa tam KH 3 giác CFA : Viên phân ABC bằng . Do đó viên phân ABC bằng 1/3 KW 1 lần tam giác CFA , mà tam giác CFA bằng 4 lần tam giác ABC.
B3: Suy ra viên phân ABC bằng 4/3 lần tam giác ABC. (tham khảo Kazt, 2008, tr.105) Để giải quyết bài toán tính diện tích viên phân parabol, Archimède vừa đưa ra lời giải bằng kĩ thuật vét kiệt, vừa đưa ra lời giải bằng kĩ thuật cơ học. Nhờ xem xét cơ học (chẳng hạn “cân” các đoạn thẳng tạo thành viên phân và tam giác) để giải quyết bài toán cầu phương. Ý tưởng này thể hiện về lịch sử tích phân không chỉ có mối quan hệ đến đối tượng diện tích mà còn có mối quan hệ mật thiết với những động lực đến từ vật lý.
Tư tưởng khái niệm TPXĐ được thể hiện trong kỹ thuật cơ học là chia nhỏ các 13 hình và tính xấp xỉ diện tích các hình. Tư tưởng này hiện diện công cụ ngầm ẩn của TPXĐ để giải quyết bài toán tính diện tích. + Kỹ thuật : Kỹ thuật vô cùng bé B1: Chia hình cần tính thành các đa giác vô cùng bé, chọn một hình đã biết cách tính diện tích các đa giác đó (đồng nhất hình cần tính với hình đã chọn). B2: Tính tổng diện tích các hình đã chọn B3: Kết luận diện tích hình cần tính là tổng diện tích các hình đã chọn.
Công nghệ Sử dụng khái niệm vô cùng bé, định luật Kepler. “Đường thẳng nối mặt trời tới quỹ đạo của hành tinh quét những diện tích bằng nhau trong những thời gian bằng nhau” (Nguyễn Cang, 1999, tr.136) Ví dụ: Tính diện tích hình tròn bán kính AB của nhà bác học Kepler B1: Chia hình tròn bán kính AB thành vô hạn các quạt tròn vô cùng nhỏ mà mỗi hình có thể coi như một tam giác cân (mỗi tam giác đều có chiều cao AB , đỉnh của chúng là tâm A). Chọn hình đa giác là chu vi của hình tròn bằng cách kéo dài chu vi thành một đường thẳng tạo thành các tam giác vô cùng bé có cùng đáy là chiều cao AB và đỉnh là tâm hình tròn. B2: Tính tổng diện tích các tam giác vô cùng bé thu được kết quả bằng nữa tích của bán kính và chu vi hình tròn.
B3: Xem diện tích hình tròn là tổng diện tích các tam giác vô cùng bé và thu được kết quả diện tích hình tròn Shình tròn S tam giác = 1 R.