Chương 1. QUYỀN LỰC 23 phục tùng ý chí của mình. Chủ thể quyền lực phải có ít nhất những ưu thế về điều kiện, phương tiện và công cụ như: vị thế hay địa vị xã hội (thế lực xã hội lớn, địa vị xã hội cao, quan hệ xã hội rộng, ảnh hưởng xã hội lớn, v.); sức mạnh (thé lực, kinh tế, trí tuệ, v.); sự kết hợp cả vị thế, địa vị và sức mạnh, bởi khi có sức mạnh thì thường có địa vị và ưu thế xã hội và ngược lại, v. Đối tượng của quyền lực là thực thể bị chỉ phối, bị chỉ huy trước chủ thể của quyền lực; bắt buộc tuân thủ, phục tùng ý chí của chủ thể quyền lực, phải làm điều nó không mong muốn.
Đối tượng của quyền lực là thực thể không có những ưu thế, điều kiện, phương tiện và công cụ - hoặc không có ưu thế về chúng, để thực hiện điều mình mong muốn. Sự phân định cá thể, nhóm nào đó là chủ thể quyền lực hay đối tượng quyền lực là khá phức tạp và có tính tương đối. Chẳng hạn, tùy thuộc hệ thống tham gia một người là chủ thể quyền lực trong gia đình, nhưng là nhân viên (đối tượng quyền lực) ở cơ quan, hay nhân dân luôn là thần dân (đối tượng quyền lực) trong chính thể phong kiến, nhưng lại là chủ thể quyền lực nhà nước trong các chính thể dân chủ. Cơ sở của quyền lực là các yếu tố hợp thành nền tang cua quyén lực, với xã hội người trước hết phải nói đến các yếu tố cơ bản- kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội, v.
Nguồn lực của quyền lực là sức mạnh, uy tín, sự giàu có, lợi ích, sự bí mật, sự hiểu biết (tri thức), ý tưởng, tổ chức, pháp luật, v. Phương tiện của quyền lực là công cụ chủ thé quyén lực sử dung để tác động đến đối tượng quyên lực nhằm đạt mục đích của mình. Phương tiện của quyền lực rất phong phú tùy theo lĩnh vực và cách thức sử dụng; có các phương tiện kinh tế, văn hóa, tư nướng, pháp luật, bao luc, v. Quan hé ' quyền lực là quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quyền lực; là quan hệ quan hệ giữa một bên (chủ thể) nhận thức, ý thức được 24 GIÁO TRÌNH QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ lợi ích của mình và quyết tâm thực hiện lợi ích đó, thể hiện thành ý chí chi phối, còn bên kia thừa nhận, chấp nhận ý chí ấy.
Sự “chỉ phối” của bên này (chủ thể quyền lực) và sự “chấp nhận” của bên kia (đối tượng quyền lực) là quan hệ cơ bản tạo nên quyền lực. Khi quyền lực chỉ dựa trên sự “thừa nhận” của bên bị chi phối thì trở thành quyền uy. Quyền uy lấy sự phục tùng làm tiền đề (Ph. Từ cách nhìn khác, “quyền”.
(quan hệ thừa nhận ý chí) và “lực” (sự tác động có sức mạnh bắt buộc) là hai yếu tố tạo thành quyền lực. Hai yếu tổ này có thể chuyên hóa lẫn nhau, quyền có thể tạo ra lực và lực có thể tạo ra quyền và kết hợp với nhau để tạo ra quyền lực. Quan hệ quyền lực thể hiện ở hành vi của ít nhất hai thực thể - chủ thể chỉ phối và đối tượng bị chi phối, hay chủ thể chỉ huy ra lệnh và đối tượng tuân thủ, phục tùng. Những yếu tố tạo nên sức mạnh của chủ thể quyển lực tất đa đạng, phức tạp.
Nó tùy thuộc vào các loại quan hệ xã hội - từ kinh tế, chính trị, văn hóa, đến đạo đức, tôn giáo, v.; tùy thuộc vào tính chất của các quan hệ xã hội như xã hội nguyên thủy, xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản, xã hội xã hội chủ nghĩa .; tùy thuộc vào trình độ phát triển xã hội như các xã hội tiền công nghiệp, công nghiệp, hậu công nghiệp hay tri thức, v. Ngoài ra, quyền lực của cá nhân còn có thể bị quy định bởi những nhân tổ khác như thể lực, trí tuệ, tiền của, chủng tộc, dòng dõi, tuổi tác, văn hóa, uy tín, v. Trong xã hội có giai cấp, những nhân tố luật pháp, ý chí hay bạo lực có ảnh hưởng rất lớn đến quyền lực. Đặc trưng của quyền lực a.
Quyên lực có tính quan hệ Quyền lực là quan hệ giữa các thực thể - chủ thể và đối tượng, của quyền lực. Quyền lực chỉ tồn tại khi có sự tương tác giữa hai thực thể trở lên, một chủ thể quyền lực có thể tác động đến nhiều đối tượng quyền lực. Khả năng chỉ phối (áp đặt, ép buộc) của chủ thể quyền lực và khả năng phản ứng của đối tượng quyên lực đều tác động quan trọng đến hiệu lực và hiệu quả của quyền lực trong thực Chương 1. QUYỀN LỰC 25 tế.
Quan hệ quyền lực giữa chủ thể và đối tượng quyền lực có thé là _ trực tiếp hoặc gián tiếp. Cần phân biệt quyên Iực (một chiều, áp đặt, có chủ đích, có hiệu lực) với sự ảnh hưởng nói chung (là quan hệ hai chiều, không chủ đích, không chắc chắn về hiệu lực, không rõ sắc thái bắt buộc, cưỡng chế, ép buộc, v. Phân biệt rõ các cấp độ quan hệ chủ thể nêu trên rất quan trọng trong nghiên cứu Chính trị học. Quan hệ xã hội phong phú và phức tạp, nên quan hệ quyền lực cũng phong phú và phức tạp.
Quyền lực có tính mục đích Chủ thể quyền lực buộc đối tượng quyền lực làm điều mà chủ thể mong muốn. Việc sử dụng quyền lực là một hành động mang tính mục đích vì nó chủ ý tác động đến người khác theo những cách thức nhất định và hướng đến những mục tiêu nhất định. Tính mục đích của việc sử dụng quyền lực thể hiện dưới đạng công khai và không công khai, trực tiếp và gián tiếp (qua trung gian). Quyền lực có thể được sử dụng để thúc đây, hoặc ngăn chặn một hành động theo mục đích nhất định.
Tính mục đích cũng qui định phạm vi của quyền lực. Ngoài ra, việc sử dụng quyền lực còn có thê đưa đến những hệ quả ngoài dự định hay ngoài ý muốn. Quyển lực có tính chính đáng Tính chính đáng (Legitimacy) của quyền lực bắt nguồn từ tính tat yếu khách quan của quyên lực trong việc tổ chức và phối hợp hành động của con người trong xã hội nói chung và trong sản xuất nói riêng. Tính chính đáng của quyền lực là chủ đề phức tạp và rất quan trọng trong chính trị và Chính trị học, nó liên quan đến hàng loạt câu hỏi, chang han, về cơ sở của quyền lực, về uy tín của quÿền lực và chủ thể của nó, về sự chấp nhận quyền lực từ phía đối tượng quyền lực, v.
Khả năng áp đặt của chủ thể quyền lực đù lớn đến đâu cũng không là đủ đảm bảo hiệu quả và hiệu lực của mệnh lệnh, vì nó còn phụ thuộc vào sự phản ứng (chống đối) của đối tượng quyền lực. Tính chính đáng càng cao thì “chi phí” cưỡng chế càng thấp, mục đích quyền lực càng đạt được nhanh chóng và chính xác. Tính chính đáng 26 GIAO TRINH QUYEN LUC CHINH TRI của quyền lực phụ thuộc vào tính hợp lý, tính đại điện lợi ích và tính hợp pháp, hợp lệ của quyền lực. Ngược lại, tính không chính đáng của quyền-lực là tính chủ quan, bắt nguồn từ ý muốn chủ quan của con TBƯỜI.
Quyền lực do ép buộc hay tước đoạt của người khác, từ người khác theo ý muốn chủ quan thì không có tính chính đáng. Tính không chính đáng càng cao thì “chỉ phí” cưỡng chế càng cao và đạt đến mục đích càng khó,khăn. Quyền lực có tính tương xứng và bat tương xứng Quyền lực thường là quan hệ bất tương xứng, chủ thể quyền lực có ưu thế (thậm chí vượt trội) so với đối tượng quyền lực, nhờ sử dụng sự ảnh hưởng hoặc kiểm soát được các nguồn lực nhằm đạt được lợi ích của mình. Năng lực của chủ thể quyền lực có thể quy về năng lực thưởng phạt (về vật chất, tỉnh thần) các đối tượng quyền lực.
Tuy nhiên, trong các tương tác xã hội có thể xuất hiện những tình huống mà hai bên tham gia vào một quan hệ quyền lực có sự tương xứng quyền lực nhất định, khi cán cân quyền lực cân bằng, mỗi chủ thể sử dụng mức độ ảnh hưởng, hoặc kiểm soát nguồn lực ngang nhau. Quyển lực có tính tiềm năng và tính thực tế Quyền lực có tính tiềm năng khi những điều kiện và nhu cầu sử dụng quyền lực chưa đầy đủ, nhưng đã xuất hiện cảm giác, nhận thức của đối tượng quyền lực về sự kiểm soát, chỉ phối của chủ thể quyền lực. Quyền lực chỉ trở thành thực tế khi có đầy đủ các điều kiện và nhu cầu sử dụng quyền lực. Quyền lực thực tế chỉ việc sử dụng các nguồn lực để chỉ phối đối tượng một cách rõ ràng, công khai.
Quyền lực tiềm năng mang tính tuyệt đối, có thể đo được bằng nhiều cách một cách khách quan. Quyền lực thực tế, quan sát được lại mang tính tương đối. Sự chuyển biến quyền lực tiềm năng thành quyền lực thực ° Trong các nghiên cứu chính trị cho đến nay người ta thường phân biệt hai khái niệm “quyên lực” (power) và “quyền uy, thâm quyền” (authority) từ cách nhìn nhận này. Quyên lực có thể là quyền uy khi nó được coi là chính đáng - xứng - đáng, có uy tín v.
hay là được sự chấp nhận từ phía đối tượng của quyền lực. Tính hợp lý, tính đại diện lợi ích và tính hợp pháp, hợp lệ của quyền lực được Ph.Ănghen phân tích cô đọng trong tác phẩm Bàn về quyển uy (1872). [ women Chương 1. QUYỀN LỰC 27 tế phụ thuộc vào nhận thức và năng lực chống đối của đối tượng quyền lực.
Quyên lực có tính thúc đẩy và tính ngăn chặn hành động Việc thực thi quyền lực có thể tác động đến hành động hoặc tư tưởng của người khác theo hướng buộc đối tượng làm điều họ không muốn, hoặc cản trở, ngăn chặn họ làm điều họ muốn. Quyền lực ngăn chặn nhằm kiểm soát hành vi của đối tượng để không tạo ra kết quả không mong muốn, hạn chế sự tự do hành động của người khác. Quyền lực thúc đây là khuyến khích đối tượng tạo ra kết quả mong đợi. Quyền lực có tính khách quan và tính phố biến Quyền lực ra đời, tồn tại cùng với hoạt động xã hội của con người, là đòi hỏi khách quan của hoạt động xã hội, vấn đề là ở chỗ con người nhận thức và sử dụng quyền lực như thế nào.
Tính khách quan (tất yếu) của quyền lực bắt nguồn từ tính quy định của sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển của loài người.