ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là đất nƣớc đƣợc nhiều quốc gia trên thế giới chọn là điểm trung chuyển phế liệu công nghiệp. Nghành công nghiệp tái chế đang mang lại nguồn thu nhập chính cho một bộ phận không nhỏ ngƣời dân, góp phần ổn định cuộc sống và xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, ngành công nghiệp này còn thủ công, các hoạt động thu gom và xử lý nƣớc thải tại các cơ sở chƣa đƣợc chú trọng. Do đó các hoạt động này có thể gây ra ô nhiễm môi trƣờng và ảnh hƣởng đến cuộc sống của con ngƣời.
Hoạt động tái chế chì ở làng nghề Đông Mai, xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hƣng Yên đã diễn ra khoảng từ năm 1970. Sự phát triển của nghề tái chế chì đã đóng góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế của địa phƣơng. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển đó, môi trƣờng làng nghề Đông Mai đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt là ô nhiễm môi trƣờng đất và nƣớc, ảnh hƣởng xấu đến sức khỏe của ngƣời dân làng nghề, đặc biệt là trẻ em ( Báo Pháp Luật Thành Phố Hồ Chí Minh, 2015). Trong quá trình tái chế, lƣợng axit dƣ thừa đƣợc đổ thẳng xuống cống, lò nấu chì không qua bất cứ công đoạn xử lý khói bụi nào đƣợc thải trực tiếp ra môi trƣờng.
Để đối phó với tình trạng ô nhiễm môi trƣờng đang trở nên nghiêm trọng hơn, tỉnh Hƣng Yên đã có biện pháp khắc phục và xử lý ô nhiễm chì ở làng nghề Đông Mai nhƣ xây dựng hệ thống xử lý nƣớc thải tập trung. Tuy nhiên, những giải pháp trên chƣa thực sự hiệu quả, mức độ ô nhiễm chƣa giảm, hoặc một số biện pháp kỹ thuật đòi hỏi chi phí cao và không hiệu quả. Do đó, việc tìm kiếm giải pháp hiệu quả về mặt sinh thái và xã hội là điều cần thiết. Trong đó, tiếp cận sử dụng các quá trình sinh học trong xử lý ô nhiễm môi trƣờng là một lựa chọn phổ biến và đã đƣợc chứng minh mang lại hiệu quả cao.
Xử lý nƣớc thải bằng thực vật thủy sinh là một trong những giải pháp của tiếp cận sinh học. Phƣơng pháp này thể hiện đƣợc những ƣu điểm nổi bật 1 nhƣ chi phí thấp, dễ áp dụng, và đạt hiệu quả xử lý tƣơng đối cao, phù hợp với khu vực nông thôn. Xuất phát từ lý do trên, đề tài: “Khả năng xử lý nước mặt nhiễm chì của cây rau Muống và cây cải Xoong tại làng nghề Đông Mai, xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên” đã đƣợc thực hiện nhằm đánh giá khả năng hấp thụ Chì của hai loại cây và tìm ra giải pháp hiệu quả, phù hợp với điều kiện khu vực nghiên cứu. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về làng nghề ở Việt Nam 1. Lịch sử hình thành, phát triển và vai trò của làng nghề ở Việt Nam Kinh tế của ngƣời Việt cổ chủ yếu dựa vào việc trồng lúa nƣớc, các hoạt động làng nghề diễn ra không thƣờng xuyên. Trong một năm, chỉ những ngày đầu vụ hoặc cuối vụ thì ngƣời dân mới có việc làm, những ngày còn lại thƣờng nhàn rỗi. Vì vậy, nhiều nông dân thƣờng tìm công việc phụ để làm thêm với mục đích cải thiện cuộc sống của gia đình.
Từ những lợi ích đó, làng nghề thủ công ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu và điều kiện sẵn có của con ngƣời. Sự phân hóa ngành nghề cũng dần xuất hiện. Những nghề đem lại lợi ích lớn sẽ phát triển, ngƣợc lại những nghề đem lại hiệu quả kinh tế không cao, không hợp với nhu cầu thị trƣờng thì sẽ dần mai một. Từ đây, hình thành các làng nghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất nhƣ làng gốm, làng chiếu, làng tái chế.
Làng nghề là một thiết chế kinh tế xã hội, là một cụm hoặc nhiều cụm dân cƣ sinh sống trong một thôn (làng), có một hay một số nghề đƣợc tách ra khỏi nông nghiệp để SXKD độc lập và tồn tại trong một không gian địa lý nhất định. Thu nhập từ các nghề chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng (Đinh Xuân Nghiêm, 2010). Làng nghề Việt Nam gắn liền với bản sắc và đặc thù của từng vùng. Theo thống kê của Hiệp hội làng nghề Việt Nam năm 2015, cả nƣớc có 1.450 làng nghề, phân bố trong cả nƣớc.
Riêng địa bàn đồng bằng sông Hồng có khoảng 800 làng nghề, trong đó: Thái Bình: 187 làng, Bắc Ninh: 59 làng, Hải Dƣơng: 65 làng, Hƣng Yên: 62 làng… Rất nhiều làng nghề có hàng trăm năm tuổi và trở thành biểu tƣợng của địa phƣơng làm làng nghề đó. Các ngành nghề chủ yếu đƣợc tóm tắt trong bảng 1. Các loại hình nghề chủ yếu ở Việt Nam Các loại hình làng nghề Tái Thủ TT Vùng miền Ƣơm Chế biến Vật liệu chế công Nghề tơ, dệt nông sản, xây dựng, phế mỹ khác nhuộm thực phẩm gốm sứ liệu nghệ 1 Miền Bắc 138 134 61 404 17 222 2 Miền Trung 24 42 24 121 9 77 3 Miền Nam 11 21 5 93 5 42 Tổng 173 197 90 618 31 341 (Nguồn: Viện KH&CNMT, Đại học Bách Khoa Hà Nội, 2005) Sự phát triển của làng nghề đang góp phần đáng kể trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phƣơng. Tại nhiều làng nghề, tỷ trọng các ngành công nghiệp đạt từ 60% - 80% và ngành nông nghiệp chỉ đạt 20% - 40%.
Kết quả tính toán cho thấy, trong vòng 10 năm (2003 - 2013), làng nghề nông thôn Việt Nam có tốc độ tăng trƣởng nhanh, trung bình khoảng 8%/năm tính theo giá trị đầu ra. Quá trình công nghiệp hóa cùng với sự áp dụng các chính sách khuyến khích phát triển khiến cho các cụm làng nghề ngày nay càng đƣợc áp dụng phổ biến. Mở của hội nhập các làng nghề có cơ hội giới thiệu sản phẩm của mình với khách nƣớc ngoài, đó là những mặt hành xuất khẩu mạnh của nƣớc ta trong nhiều năm qua. Trong đó, phần nhiều xuất xứ từ các làng nghề truyền thống trong cả nƣớc nhƣ thủ công mỹ nghệ, gốm sứ… Làng nghề đóng vai trò thực sự quan trọng đối với việc xóa đói, giảm nghèo, giải quyết vệc làm cho ngƣời lao động, góp phần tăng thu nhập nâng cao chất lƣợng cuộc sống ngƣời dân Việt Nam.
Một số vấn đề môi trƣờng làng nghề Hiện nay, hầu hết các làng nghề tại Việt Nam đều bị ô nhiễm môi trƣờng (trừ các làng nghề không sản xuất hoặc dùng các nguyên liệu không gây ô 4 nhiễm nhƣ thêu,may,…). Chất lƣợng môi trƣờng tại hầu hết các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn khiến ngƣời lao động phải tiếp xúc với các nguy cơ gây thiệt hại về sức khỏe. Mỗi làng nghề thƣờng mang một nét đặc trƣng riêng cho hoạt động sản xuất theo ngành nghề và loại hình sản phẩm. Chính vì vậy, bản chất và mức độ gây ô nhiễm không giống nhau.Mức độ ô nhiễm môi trƣờng đất, nƣớc, không khí ở các làng nghề khác nhau là khác mhau, nó phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất, tính chất sản phẩm và thành phần chất thải ra môi trƣờng.
Ô nhiễm môi trường nước Hầu hết nƣớc mặt ở các sông hồ hiện nay tại làng nghề trong khu vực sông Nhuệ - Đáy, lƣu vực sông Cầu ở phía Bắc và hệ thống sông Đồng Nai ở phía Nam đều bị ô nhiễm nghiêm trọng do chịu tác động trực tiếp của nƣớc thải sản xuất tại các làng nghề, nhiều nơi đã đến mức báo động. Điều này ảnh hƣởng trực tiếp đến nguồn nƣớc thải sinh hoạt của ngƣời dân, làm ngày càng gia tăng các loại bệnh đặc biệt là các loại bệnh về đƣờng tiêu hóa, bệnh về mắt, các bệnh ngoài da. Nguyên nhân chủ yếu là nƣớc thải của các làng nghề chƣa qua hệ thống xử lý đã đƣợc đổ trực tiếp ra ngoài môi trƣờng. Nghiên cứu chỉ ra rằng, 100% mẫu nƣớc thải tại các làng nghề đƣợc khảo sát có thông số vƣợt quá tiêu chuẩn cho phép, nƣớc mặt và nƣớc ngầm đều có dấu hiệu bị ô nhiễm (Nguyễn Thanh Lâm, 2012).
Tải lƣợng các chất ô nhiễm trong nƣớc thải của một số làng nghề chế biến lƣơng thực, thực phẩm COD SS STT Làng nghề BOD5 (mg/l) (mg/l) (mg/l) 1 Bún Phú Đô 76,9 53,14 9,38 2 Bún Vũ Hội 22,62 15,3 2,76 3 Rƣợu Tân Độ 2.250 13,01 11,55 4 Tinh bột Dƣơng Liễu 13.133 (Viện KH&CNMT, Đại học Bách Khoa Hà Nội, 2005) 5 Kết quả trình bày trên bảng 1.2 cho thấy, hàm lƣợng BOD5 và COD trong nƣớc thải cao. Hàm lƣợng chất hữu cơ cao là nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm hàm lƣợng oxy hòa tan trong nƣớc, cản trở khả năng tự phân hủy và khả năng đồng hóa của môi trƣờng, tác động tiêu cực đến các loài động vật thủy sinh trong ao, hồ. Ô nhiễm môi trường không khí Đối với các làng nghề, ô nhiễm không khí bao gồm các dạng ô nhiễm do bụi, khí độc hại, ô nhiễm mùi,và tiếng ồn. Gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng hàng đầu pải kể đến các nghề tái, đặc biệt là các làng nghề tái chế kim loại.
chúng không phát sinh bụi, khí độc nhƣ : SO2, NO2, CO, mà còn phát sinh hơi kim loại nhƣ PbO, CuO, hơi axit, kiềm trong quá trình tái chế và gia công bề mặt kim loại. Theo kết quả phân tích của sở Tài nguyên và Môi trƣờng Nam Định năm 1997, tại làng nghề chì Đông Mai (Hƣng Yên), hàm lƣợng chì trong không khí lên tới 46,411 mg/m3. Nguyên nhân chủ yếu là do việc sử dụng nhiên liệu đốt là than và thƣờng là than kém chất lƣợng. Đây là loại nhiên liệu phát sinh hàm lƣợng bụi lớn.
Đồng thời, do bản chất của một số kim loại khi nóng chảy dễ dàng chuyển thành thể hơi, phân tán vào không khí. Thải lƣợng ô nhiễm do đốt than tại các làng nghề tái chế Lƣợng STT Làng nghề Bụi SO2 CO NO2 than Đa Hội- 3.894,4 81 Bắc Ninh 8 Vân 2 Chàng-Nam 42.606 69,21 81,54 2,28 66,48 Bắc Ninh Phú Lâm- 4 3.430 31,21 36,77 1,03 29,98 Bắc Ninh (Nguồn: Báo cáo hiện trạng Môi trường Quốc gia, 2008) 6 Kết quả ở bảng 1.3 cho thấy hầu hết các làng nghề sử dụng nguồn nhiên liệu là than, vì thế hàm lƣợng bụi và khí độc hại phát sinh trong quá trình cháy rất lớn, điển hình là làng nghề Đa Hội-Bắc Ninh. Xếp phía sau các làng nghề tái chế về mức độ ô nhiễm là các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá, đặc điểm ô nhiễm là do bụi đá phát sinh từ quá trình khai thác và tái chế đá. Ảnh hưởng đến môi trường đất Đất là nguồn tài nguyên không tái tạo nhƣng để phục vụ cho sản xuất thì con ngƣời vẫn ra sức khai thác và sử dụng nó vào mực đích của mình.