Chương 1: Những lý luận cơ bản về ngân hàng đầu tư. Chương 2: Nhận định khả năng vận dụng mô hình ngân hàng đầu tư tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Chứng Khoán Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Ngoại Thương Việt Nam. Chương 3: Giải pháp nhằm vận dụng mô hình ngân hàng đầu tư tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Chứng Khoán Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Ngoại Thương Việt Nam. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
Mô hình ngân hàng đầu tư đã phát triển từ lâu đời trên thế giới và đến nay vẫn chỉ rõ tính ưu việt với những đóng góp quan trọng cho sự phát tiển của thị trường tài chính các nước. Ở Việt Nam, một số công ty chứng khoán lớn và các ngân hàng đã tuyên bố định hướng hoạt động theo mô hình này. Tuy nhiên, nhiều thành phần trong nền kinh tế vẫn còn xa lạ với khái niệm mô hình này. Luận văn sẽ khái quát mô hình ngân hàng đầu tư và kinh nghiệm hoạt động trên thế giới.
Do đó, các định chế tài chính, các nhà đầu tư và tổ chức khác có thể dùng luận văn để tham khảo cho các định hướng hoạt động. -4- CHƢƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ 1.1 Tổng quan ngân hàng đầu tƣ 1.1 Khái niệm cơ bản ngân hàng đầu tƣ Trong nền kinh tế, nhu cầu về vốn để đầu tư và các nguồn tiết kiệm có thể phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau. Những người có cơ hội đầu tư sinh lời thì thiếu vốn, trái lại những người có vốn nhàn rỗi lại ít có cơ hội đầu tư. Do đó hình thành cơ chế chuyển đổi từ tiết kiệm sang đầu tư.
Thay vì tìm kiếm các nguồn vay ngắn hạn trên thị trường tiền tệ qua kênh ngân hàng thương mại với điều kiện vay vốn khó khăn và lãi suất cao. Người thiếu vốn có thể tìm kiếm nguồn vốn trung dài hạn trên thị trường vốn, cơ chế đó được thực hiện trong khuôn khổ thị trường tài chính. Những người thiếu vốn huy động vốn bằng cách phát hành ra các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu. Ngân hàng đầu tư xuất hiện làm nhiệm vụ giúp cho chủ thể thiếu vốn phát hành ra các loại chứng khoán ra thị trường nhằm huy động vốn.
Các loại chứng khoán cổ phiếu, trái phiếu. Do đó, ngân hàng đầu tư đóng vai trò là một chủ thể trung gian quan trọng trong nền kinh tế trên thị trường vốn. Như vậy, ngân hàng đầu tư thực chất là một định chế trung gian tài chính, được phát triển ở một mức độ cao hơn từ công ty chứng khoán với các nghiệp vụ đa dạng và phức tạp. Nghiệp vụ của ngân hàng đầu tư hiện đại bao gồm nhiều nghiệp vụ như phát hành chứng khoán, bảo lãnh phát hành, tư vấn và sáp nhập doanh nghiệp, hoạt động đầu tư, môi giới, nghiên cứu 1.2 Phân loại mô hin ̀ h ngân hàng đầu tƣ Việt Nam chưa thực sự có các ngân hàng đầu tư song có các định chế tài chính thực hiện một số chức năng của ngân hàng đầu tư, đó là các công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ Mô hình ngân hàng đầu tư tồn tại dưới hai hình thức là ngân hàng đầu tư độc lập, ngân hàng tổng hợp.
-5- Ngân hàng đầu tư độc lập gồm: các công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ không trực thuộc ngân hàng thương mại được coi là các ngân hàng đầu tư độc lập. Ngân hàng đầu tư độc lập được phân ra hai loại là ngân hàng đầu tư toàn diện và ngân hàng đầu tư chuyên sâu Hình 1.1: Mô hình ngân hàng đầu tƣ độc lập (Nguồn: The business of investment banking: a coprehensive overview) +Ngân hàng đầu tư toàn diện: cung cấp các dịch vụ đa dạng bao gồm bảo lãnh phát hành chứng khoán, đầu tư chứng khoán, cung cấp các khoản tín dụng, sáp nhập và mua lại doanh nghiệp, môi giới chứng khoán, quản lý đầu tư và nghiên cứu. + Ngân hàng đầu tư chuyên sâu: không cung cấp đầy đủ các loại dịch vụ của ngân hàng đầu tư và thường không bị rơi vào tình huống xung đột lợi ích như các ngân hàng đầu tư toàn diện, mà chỉ cung cấp một số mảng dịch vụ lựa chọn nhất định hoặc tập trung khai thác một mảng thị trường nhất định. Một số ngân hàng chuyên về tư vấn sáp nhập và mua lại doanh nghiệp, một số tập trung phục vụ các khách hàng định chế tài chính, một số tập trung vào đầu tư mạo hiểm.
Ngân hàng tổng hợp: các công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ trực thuộc ngân hàng thương mại được coi là một bộ phận của ngân hàng tổng hợp.2: Mô hình ngân hàng đầu tƣ tổng hợp (Nguồn: The business of investment banking: a coprehensive overview) Trong thập kỷ gần đây, hàng loạt các tên tuổi lớn Credit Suisse, JP.Morgan Chase, HSBC chuyển mình mạnh mẽ sang lĩnh vực ngân hàng đầu tư. Dòng sản phẩm của ngân hàng này đã thay đổi nhiều năm trước đây và trở nên phong phú hơn rất nhiều. Trên thế giới có thể kể đến ba ngân hàng tổng hợp tiêu biểu Citigroup, J.P Morgan và UBS.1 Mảng kinh doanh chính của ba ngân hàng đầu tƣ tổng hợp Citigroup J.Morgan UBS Ngân hàng tiêu dùng Quản lý tài sản Dịch vụ khách hàng toàn cầu Ngân hàng thương doanh nghiệp Ngân hàng đầu tư mại Dịch vụ khách hàng toàn cầu Ngân hàng đầu tư tổ chức Thị trường vốn toàn Dịch vụ ngân hàng cá Dịch vụ khách hàng cầu nhân quỹ đầu cơ Ngân hàng thương Dịch vụ ngân quỹ Dịch vụ khách hàng mại chính phủ Dịch vụ chứng khoán Quản lý tài sản toàn Dịch vụ khách hàng cầu cá nhân (Nguồn: Trang chủ của các ngân hàng) -7- 1.3 Các nghiệp vụ ngân hàng đầu tƣ 1.1 Nghiệp vụ ngân hàng đầu tƣ Đây là nghiệp vụ truyền thống, lâu đời nhất và cũng là nghiệp vụ cốt lõi hình thành nên ngân hàng đầu tư. Nghiệp vụ này bao gồm dịch vụ tư vấn, bảo lãnh phát hành chứng khoán.
Các loại chứng khoán đó bao gồm phát hành cổ phiếu, trái phiếu chuyển đổi (chứng khoán vốn) và trái phiếu (phát hành chứng khoán nợ). Các nghiệp vụ này thực hiện chủ yếu trên thị trường sơ cấp. Nghiệp vụ này dần được mở rộng ra bao gồm dịch vụ tư vấn sáp nhập và mua lại (M&A), tư vấn tái cấu trúc doanh nghiệp hay tái cấu trúc công ty, thoái vốn đầu tư, tư vấn chiến lược. Nghiệp vụ này đòi hỏi kiến thức chuyên môn sâu rộng trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp và là cánh tay nối dài của nghiệp vụ huy động vốn.
Nghiệp vụ này đóng góp doanh thu tương đối cao thông qua các hoạt động tư vấn và bảo lãnh phát hành trái phiếu. Thông thường khoản phí thu về từ 2%-3% tổng giá trị hợp đồng. Còn đối với dịch vụ tư vấn sáp nhập và mua lại, khoản phí thường dao động từ 1% -1,5%. Khi giá trị hợp đồng càng cao thì khoản phí thường thấp lại vì trong mọi trường hợp thì ngân hàng đầu tư đều mang về một khoản phí nhất định nên đây là một lĩnh vực thu hút không chỉ ngân hàng đầu tư mà còn nhiều công ty tư vấn tài chính lớn.
Dịch vụ ngân hàng đầu tư được coi là giá trị cốt lõi của ngân hàng đầu tư.2 Nghiệp vụ đầ u tƣ Nếu như nghiệp vụ ngân hàng đầu tư diễn ra trên thị trường sơ cấp thì nghiệp vụ đầu tư hầu như diễn ra trên thị trường thứ cấp, bao gồm môi giới và đầu tư. Nghiệp vụ đầu tư bao gồm môi giới và đầu tư. Nghiệp vụ môi giới chủ yếu được áp dụng cho các chứng khoán niêm yết, trong đó ngân hàng đầu tư đóng vai trò trung gian nhận lệnh, truyền lệnh và trả lệnh khớp về cho khách hàng. Nghiệp vụ đầu tư bao gồm nghiệp vụ đầu tư cho khách hàng với chức năng tạo thanh khoản trên thị trường.
Nghiệp vụ tự doanh với mục tiêu đầu cơ biến động giá chứng khoán, hoạt động này mang tính rủi ro cao vì ngân hàng đầu tư đem vốn mình ra để tự doanh. Nghiệp vụ này hoạt động cả trên thị trường phi chính thức, thị trường -8- niêm yết. Chính vì thế nghiệp vụ đầu tư tự doanh mang tính rủi ro cao hơn nghiệp vụ đầu tư mang tính thanh khoản. Hoạt động đầu tư cho khách hàng thường được gắn liền với nhân viên bán hàng.
Các nhân viên bán hàng là người tìm kiếm và duy trì quan hệ với các khách hàng lớn để giới thiệu họ với các nhân viên tư vấn.3 Nghiệp vụ nghiên cứu Nghiệp vụ nghiên cứu được thực hiện bởi các nhân viên nghiên cứu, nhằm phân tích tình hình của các loại chứng khoán trên thị trường, giúp cho nhà đầu tư có thể ra quyết định mua bán của mình một cách linh hoạt, kịp thời. Các nghiệp vụ này rất đa dạng bao gồm: phân tích tình hình kinh tế vĩ mô, kinh tế ngành, doanh nghiệp, phân tích chiến lược đầu tư. Nghiệp vụ nghiên cứu không tạo ra doanh thu trực tiếp song có tác dụng tăng cường chất lượng dịch vụ, tăng khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng đầu tư. Việc nghiên cứu có tác dụng tăng tính thanh khoản cho hoạt động mua bán chứng khoán, tăng tính thanh khoản cho cổ phiếu.
Bên cạnh đó hoạt động này cũng giúp việc phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp trở nên dễ dàng hơn.4 Nghiệp vụ ngân hàng bán buôn Bản chất của nghiệp vụ này là việc ngân hàng đầu tư vào các doanh nghiệp chưa niêm yết có tiềm năng để phát triển làm tăng giá trị thông qua tái cơ cấu tài chính và hoạt động. Việc đầu tư vào các doanh nghiệp vốn tư nhân có thể thực hiện từ giai đoạn khởi nghiệp đến các giai đoạn trưởng thành và phát triển của doanh nghiệp. Hai hình thức thông dụng của nghiệp vụ đầu tư vốn tư nhân là đầu tư mạo hiểm hoặc đầu tư mua doanh nghiệp thông qua đòn bẩy tài chính. Quá trình đầu tư sẽ kết thúc bằng việc thoái vốn thông qua niêm yết doanh nghiệp được đầu tư lên thị trường chứng khoán hoặc bán cho một bên thứ ba.
Một cách ít thông dụng hơn, ngân hàng đầu tư vào công ty niêm yết và thoái sàn để trở thành doanh nghiệp tư nhân nhằm hạn chế sự quan tâm của công chúng và các cơ quan giám sát thị trường. Sau quá trình phát triển và tái cơ cấu lại, ngân hàng sẽ thoái vốn đầu tư theo cách thông thường là tái niêm yết lên thị -9- trường chứng khoán. Ngân hàng đầu tư vừa thực hiện hoạt động đầu tư vốn tư nhân cho bản thân ngân hàng và cho khách hàng thông qua nghiệp vụ quản lý quỹ đầu tư vốn tư nhân.