ĐẶT VẤN ĐỀ Khi xã hội càng phát triển thì con ngƣời càng quan tâm đến cái đẹp, cái thẩm mỹ. Trong đó, vẻ đẹp của không gian sống là một trong những yếu tố mà con ngƣời quan tâm đặc biệt. Một không gian đẹp, hài hoà sẽ tạo nên sự thoải mái, thƣ giãn, kích thích các giác quan của con ngƣời, góp phần làm cho cuộc sống của con ngƣời tƣơi đẹp hơn. Công nghệ tin học phát triển, con ngƣời với nền khoa học kỹ thuật biến đổi nhanh chóng, vật liệu và chất liệu phong phú đa dạng sẽ là mảnh đất màu mỡ cho nghệ thuật phát triển.
Nghệ thuật – mỹ thuật ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nhu cầu sống của con ngƣời. Ngày càng có nhiều hình thức mới đƣợc con ngƣời sáng tạo để đáp ứng những nhu cầu ấy. Các vật liệu phong phú, đa dạng sẽ là những chất liệu để con ngƣời khai thác, tạo ra những sản phẩm, những không gian sống tƣơi đẹp. Trong thế giới vật liệu nội thất đa dạng đó thì tre trúc đƣợc biết đến nhƣ một vật liệu truyền thống vừa là một loại vật liệu của tƣơng lai, tre giúp ngƣời dân làm nhà dựng cửa, vỡ ruộng khai hoang, đâu đâu cũng có lũy tre xanh rì rào ẩn hiện.
Rặng tre xanh là chiến lũy bảo vệ làng mạc, xóm thôn, đồng thời ôm vào lòng mình tình thân thƣơng của bà con chòm xóm từ đời này qua đời khác, che mƣa che bão cho con ngƣời. Vốn dĩ cây tre quen thuộc với ngƣời dân đất Việt là thế nhƣng cây tre dùng trong nội ngoại thất và hiệu quả to lớn mà nó mang lại thì không hẳn ai cũng biết. Để tre trở thành loài cây mang lại hiệu quả kinh tế cao cho ngƣời dân và để những không gian nội thất đẹp hơn, mới mẻ hơn nhờ vật liệu tre trúc. Từ những lý do trên đƣợc sự đồng ý của nhà trƣờng và khoa Chế Biến Lâm Sản Trƣờng Đại học Lâm nghiệp Hà Nội tôi xin thực hiện khóa luận: “ Tìm hiểu và đánh giá khả năng sử dụng tre trúc trong nội và ngoại thất ” 1 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.
TÍNH CẤP THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế toàn cầu, sự liên tục tăng dân số nhiều vấn đề về môi trƣờng đang rất bức thiết. Trong khi đó nhu cầu về sử dụng đồ gỗ ngày càng gia tăng, đe dọa tới những cánh rừng, đe dọa tới cuộc sống của nhân loại. Hiện nay nguồn gỗ trên thị trƣờng đang trở nên ngày càng khan hiếm do sự hạn chế khai thác của chính phủ. Nạn khai thác gỗ bừa bãi đang gây ảnh hƣởng rất xấu tới môi trƣờng và gây ra nhiều thảm họa cho đời sống xã hội.Vì thế việc tìm ra một vật liệu thay thế gỗ tự nhiên mà không làm ảnh hƣởng đến chất lƣợng sản phẩm và vẻ đẹp của nó là rất cần thiết.
Với công nghệ hiện nay tre đang đóng góp nhiều giá trị mới thể hiện vẻ đẹp độc đáo là vật liệu thay thế sáng tạo cho gỗ tự nhiên và nhiều loại vật liệu nhân tạo khác. Trong khi cả thế giới đang là một đại công trƣờng sử dụng nhiều vật liệu kỹ thuật cao, ai cũng thừa nhận kiến trúc sử dụng tre đƣợc gắn với một tên gọi đầy kiêu hãnh: “kiến trúc xanh”. Trong những đô thị ken dày bê tông, sắt thép, kính…kiến trúc tre sẽ đƣợc yêu chiều hơn bởi sự thân thiện với môi trƣờng. Trong khi hầu hết các công trình đều ngốn chi phí năng lƣợng rất lớn từ khâu sản xuất vật liệu đến khi vận hành, sử dụng thì kiến trúc tre là công trình ít tổn hao năng lƣợng nhất.
Vì vậy việc sử dụng tre trong xây dựng, trang trí nội ngoại thất và các lĩnh vực khác sẽ không làm ảnh hƣởng xấu tới môi trƣờng. Việt Nam là đất nƣớc giàu về tài nguyên tre trúc, đất nƣớc mà cây tre, cây trúc mọc từ ngàn đời, những năm gần đây đã tiêu thụ không ít chiếu trúc, chiếu tre nhập từ Trung Quốc, và xu hƣớng này vẫn đang tiếp diễn. Cây tre Việt Nam hiện tạo ra giá trị thƣơng mại 250 triệu đô la Mỹ mỗi năm trong tổng giá trị thƣơng mại tre toàn cầu 6,8 tỉ đô la Mỹ. Nhƣng Trung Quốc nƣớc láng giềng của 2 chúng ta có diện tích tre gấp gần 3 lần Việt Nam nhƣng giá trị thƣơng mại mang lại từ cây tre lên tới 5,4 tỉ đô la Mỹ mỗi năm, chiếm phần lớn thƣơng mại tre toàn cầu.
Chính sách phát triển tre ở nƣớc ta chủ yếu để làm vật liệu cho ngành xây dựng cho nên hiệu quả thấp, ngƣời dân không hào hứng. Ở miền Bắc, giá chỉ 50- 70 nghìn đồng/cây tre, còn ở miền Nam cao hơn, khoảng 100-140 nghìn đồng/cây, nhƣng ở các nƣớc khác thì giá cao gấp từ năm đến bảy lần. Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, hiện nay giống tre của Việt Nam có tỷ lệ sử dụng rất thấp khoảng 35-40%. Loại tre có tỷ lệ sử dụng cao ở Việt Nam chỉ chiếm khoảng 10% diện tích.
Nguồn lợi từ cây tre chƣa đƣợc nhìn nhận đúng mức, mặc dù Việt Nam là quốc gia trồng nhiều tre và ngƣời dân sử dụng tre vào nhiều mục đích khác nhau từ lâu đời. Vì vậy việc nghiên cứu về tre trúc và ứng dụng của nó trong đời sống nói chung và lĩnh vực nội ngoại thất nói riêng là rất cần thiết một mặt thay thế nguồn gỗ tự nhiên đang dần khan hiếm, mặt khác làm tăng giá trị sử dụng của tre để ngƣời dân Việt có thể làm giàu từ tre trúc. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU Cây tre có mặt ở nhiều nƣớc Châu Á nhƣ Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Philippines, Indonesia, Việt Nam… từ xa xƣa.Tre đã đƣợc sử dụng tại Trung Quốc trong hơn 5000 năm - lịch sử sớm nhất của việc sử dụng tre trong toàn bộ thế giới. Ở Trung quốc, tre đƣợc sử dụng để làm sách, thực phẩm, giấy, và các mặt hàng khác.
Trung Quốc đƣợc gọi là vƣơng quốc của tre, vì nó có nhiều tre hơn bất kỳ nƣớc nào trên thế giới. Tre cũng có một lịch sử lâu dài sử dụng trong các tòa nhà, đƣợc phổ biến đến các kiến trúc bản địa của Trung Quốc, Đông Nam Á,Trung và Nam Mỹ. 3 Ngƣời Việt không thể khẳng định tre có tự bao giờ, nhƣng ai cũng biết, trên đất Việt, ở đâu cũng có tre. Tre mọc phổ biến ở mọi vùng miền của Việt Nam, từ Nam ra Bắc, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi.
Nghiên cứu về tre trúc ở Việt Nam đƣợc bắt đầu từ khá lâu. Có thể nói công trình đầu tiên nghiên cứu về tre trúc ở Việt Nam thuộc về một ngƣời Pháp trong ấn phẩm nghiên cứu về thực vật chí Đông Dƣơng. Trong những năm 1960 Phạm Quang Độ đã nghiên cứu về kỹ thuật trồng và khai thác tre trúc ở Việt Nam. Tính đến năm 2007 có trên 100 ấn phẩm nghiên cứu về tre trúc đã đƣợc phát hành trên khắp cả nƣớc Tre trúc cũng đƣợc gây trồng và sử dụng rộng rãi trong nhân dân từ lâu đời.
Trƣớc đây, ở nông thôn hầu nhƣ tất cả các vật dụng đều làm từ tre. Ngày nay, tuy tốc độ đô thị hóa cao, nhiều vật dụng thay thế nhƣng cây tre vẫn là loại vật liệu không thể vắng mặt. Cái tăm, đôi đũa bằng tre vẫn tiện dụng hơn là tăm gỗ, đũa nhựa. Và khi đời sống nâng cao thì cây tre đƣợc dùng làm cảnh khá phổ biến ở các thành phố.
Tre trúc từ lâu đã đƣợc sử dụng trong nhiều mặt của đời sống là vậy nhƣng nghiên cứu của tre trúc trong lĩnh vực nội ngoại thất còn ít và chƣa có nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này. Tại trƣờng đại học lâm nghiệp năm 2010 sinh viên Tú Anh đã thực hiện đề tài “tìm hiểu và đánh giá khả năng sử dụng của tre trúc trong nội ngoại thất” đề tài cũng đƣa ra đƣợc một số bộ sƣu tập đồ nội thất từ tre trúc nhƣng vẫn chƣa đƣa ra đƣợc giải pháp để tre trúc sử dụng để rộng rãi hơn trong nội ngoại. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU - Trên cơ sở sƣu tầm, tìm hiểu và tổng hợp ứng dụng của tre, trúc dùng trong nội thất. Qua đó, xây dựng đƣợc bộ sƣu tập những đồ nội thất đƣợc làm từ tre, trúc.
- Đánh giá đƣợc khả năng của vật liệu tre, trúc để ứng dụng chúng trong những không gian nội ngoại thất ở các loại sản phẩm cụ thể. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU - Tìm hiểu chung về tre trúc. - Tìm hiểu chung về vật liệu nội thất. - Sƣu tầm, tìm hiểu và đánh giá khả năng sử dụng của tre trúc dùng trong các hình thức nội thất khác nhau.
- Đề xuất định hƣớng sử dụng tre, trúc cho phù hợp với từng hình thái nội thất khác nhau. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Nghiên cứu về tre trúc và khả năng sử dụng trong nội ngoại thất trên địa bàn Hà Nội. Tại các cửa hàng bán đồ nội thất. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phƣơng pháp kế thừa: kế thừa những ấn phẩm nghiên cứu về tre trúc từ đó nghiên cứu chọn lọc thông tin có liên quan đến đề tài nghiên cứu để phục vụ cho đề tài.
Phƣơng pháp tƣ duy : từ những thông tin tìm hiểu đƣợc sau khi chắt lọc đánh giá, nhận định thông tin đƣa ra nhận xét kết luận về vật liệu. Phƣơng pháp internet : ngoài việc khảo sát thực tế, tìm hiểu trên sách báo bản thân tìm kiếm những thông tin trên mạng internet. Sau khi tìm hiểu thông tin từ nhiều nguồn khác nhau trên những trang wed quen thuộc có độ tin cậy cao bản thân đƣa ra nhận xét đánh giá. 5 Phƣơng pháp tìm hiểu thực tế: ngoài việc tìm hiểu thông tin trên sách vở, báo đài, internet phƣơng pháp tìm hiểu thực tế nhƣ một phƣơng pháp để kiểm nghiệm những nguồn tin từ những phƣơng pháp trên.
Phƣơng pháp này yêu cầu bản thân phải có sự năng động trong việc tìm hiểu thông tin. Nguồn tin tìm hiểu đƣợc phải đƣợc cung cấp từ những ngƣời có sự am hiểu , những cơ quan, cửa hàng có uy tín trên thị trƣờng và nguồn tin đƣợc cung cấp phải đảm bảo chắc chắn là chính xác. 6 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU NỘI THẤT 2.
Khái niệm về vật liệu nội thất Hiện nay có rất nhiều cách định nghĩa về vật liệu nội thất nhƣng sau đây tôi xin đƣa ra một cách định nghĩa ngắn gọn dễ hiểu nhƣ sau: Vật liệu nội thất là tổng thể các loại vật liệu đƣợc sử dụng để tạo nên không gian nội thất.