Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam hiện là quốc gia đứng thứ hai trên thế giới về quy mô đàn thủy cầm, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 8% mỗi năm trong giai đoạn phát triển chăn nuôi hàng hóa. Nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thịt gia cầm ngày càng tăng và giải quyết bài toán ô nhiễm môi trường từ phương thức chăn thả truyền thống, việc nghiên cứu các giống vịt siêu thịt năng suất cao nuôi theo phương thức công nghiệp trên cạn trở thành yêu cầu cấp thiết. Đề tài tập trung giải quyết vấn đề đánh giá khả năng thích nghi, sinh trưởng và sức sản xuất của các dòng vịt ông bà CV. Super Meat (SM3) nhập nội khi nuôi hoàn toàn không có nước bơi lội.

Mục tiêu cụ thể của công trình là xác định các chỉ tiêu sinh học về tỷ lệ sống, tốc độ tăng khối lượng, hiệu quả chuyển hóa thức ăn trong giai đoạn hậu bị từ 1 đến 24 tuần tuổi trên 4 dòng vịt A, B, C, D; đồng thời đánh giá năng suất trứng, chất lượng trứng và kết quả ấp nở của 2 dòng mái B, D trong giai đoạn sinh sản từ 24 đến 64 tuần tuổi. Đề tài được thực hiện từ tháng 1/2016 đến tháng 7/2017 tại Trung tâm Giống vật nuôi chất lượng cao thuộc Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi theo dõi quy mô đàn 1.050 cá thể hậu bị và 380 cá thể mái sinh sản, cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng để chuẩn hóa quy trình chăn nuôi vịt giống bố mẹ không cần nguồn nước mặt tại các tỉnh phía Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết động thái sinh trưởng gia cầm theo mô hình đường cong sinh trưởng bốn pha của Chambers, kết hợp học thuyết về tính giai đoạn trong phát triển cá thể của Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường. Quá trình sinh trưởng được phân tích thông qua sự biến đổi về sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày) và sinh trưởng tương đối (%), phản ánh quy luật tăng sinh tế bào và tích lũy mô cơ theo độ tuổi.

Về mặt sinh sản, đề tài áp dụng lý thuyết di truyền học số lượng và sinh lý sinh sản gia cầm của Khavecman và Hutt, trong đó năng suất trứng chịu ảnh hưởng bởi hệ số di truyền thấp dao động từ 12% đến 30%, trong khi khối lượng trứng có hệ số di truyền cao đạt từ 60% đến 74%. Các khái niệm then chốt được lượng hóa bao gồm: tỷ lệ nuôi sống (%), cường độ đẻ trứng (%), tiêu tốn thức ăn trên 10 quả trứng (kg), chỉ số hình thái trứng, chỉ số lòng đỏ, chỉ số lòng trắng đặc và đơn vị đo chất lượng protein Haugh (HU).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp qua thí nghiệm theo dõi liên tục trong 19 tháng. Quy mô mẫu nghiên cứu giai đoạn vịt con và hậu bị (0 - 24 tuần tuổi) gồm 1.050 con, phân bổ theo 4 dòng: dòng trống A (105 con), dòng mái B (462 con), dòng trống C (90 con) và dòng mái D (393 con). Giai đoạn vịt đẻ (24 - 64 tuần tuổi) theo dõi 380 vịt mái gồm 140 mái dòng B ghép với 35 trống dòng A (tỷ lệ 1/4) và 240 mái dòng D ghép với 60 trống dòng C (tỷ lệ 1/4).

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên được áp dụng khi cân khối lượng hàng tuần với dung lượng mẫu cố định 30 cá thể trên mỗi dòng vào khung giờ từ 7h00 đến 8h00 sáng trước khi cho ăn. Cân kỹ thuật chuyên dụng có độ chính xác ±0,5g được sử dụng cho vịt 1 ngày tuổi, cân ±5g cho vịt dưới 500g và cân ±10g cho vịt trên 500g. Chất lượng trứng được kiểm định trên 30 quả trứng ngẫu nhiên ở 40 tuần tuổi bằng thiết bị chuyên dụng đo độ dày và độ chịu lực vỏ. Toàn bộ số liệu được phân tích phương sai một nhân tố (One-way ANOVA) và kiểm định so sánh bội Tukey trên phần mềm Minitab phiên bản 16 và Microsoft Excel 2003 nhằm đảm bảo độ tin cậy thống kê cao giữa các nhóm nghiệm thức có phương sai phân tán.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khả năng sinh trưởng tích lũy của đàn vịt thể hiện sự vượt trội về tầm vóc của các dòng trống. Lúc 1 ngày tuổi, khối lượng vịt dao động từ 61,30g (dòng A) đến 65,50g (dòng B). Đến 8 tuần tuổi, dòng A đạt khối lượng 2.830,33g, dòng B đạt 2.601,67g, dòng C đạt 2.601,67g và dòng D đạt 2.021,00g. Kết thúc 24 tuần tuổi, khối lượng cơ thể đạt mức rất cao: dòng A đạt 4.716,00g; dòng B đạt 3.931,33g; dòng C đạt 4.139,33g và dòng D đạt 3.220,67g. Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối đạt đỉnh cao ở 5 tuần tuổi với mức tăng trọng của dòng A là 58,92 g/con/ngày, dòng B là 47,89 g/con/ngày, dòng C là 46,04 g/con/ngày và dòng D là 32,89 g/con/ngày.

Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn 0 - 8 tuần tuổi đạt từ 89,39% đến 95,56%, tuy nhiên giai đoạn 9 - 24 tuần tuổi giảm mạnh, kết thúc ở mức 68,57% (dòng A), 82,47% (dòng B), 77,78% (dòng C) và 86,01% (dòng D). Trong 40 tuần đẻ, tỷ lệ đẻ bình quân của dòng mái B đạt 69,20% và dòng mái D đạt 70,27%. Tiêu tốn thức ăn để sản xuất 10 quả trứng của dòng B là 4,84 kg và dòng D là 4,91 kg. Tỷ lệ nở trên trứng có phôi của tổ hợp lai ♂A x ♀B đạt 72,13% với tỷ lệ vịt loại I đạt 87,59%; tổ hợp ♂C x ♀D đạt tỷ lệ nở trên trứng có phôi là 73,99% với tỷ lệ vịt loại I đạt 84,82%.

Thảo luận kết quả

Diễn biến sinh trưởng của 4 dòng vịt SM3 có thể được minh họa trực quan thông qua đồ thị đường cong parabol thể hiện tốc độ tăng trọng tuyệt đối và biểu đồ hàm mũ mô tả sinh trưởng tích lũy theo tuần tuổi. Sự chênh lệch khối lượng lúc 24 tuần tuổi giữa dòng trống A (4.716g) và dòng mái D (3.220g) phản ánh rõ nét hiệu ứng chọn lọc di truyền chuyên biệt cho từng dòng giống. Đáng chú ý, khối lượng cơ thể đàn vịt trong nghiên cứu này cao hơn đáng kể so với các công bố trước đây về vịt Super M nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên vốn chỉ đạt từ 2.681g đến 3.094g ở 24 tuần tuổi.

Nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ nuôi sống ở giai đoạn hậu bị đạt mức chưa cao (68,57% - 86,01%) là do vịt phải trải qua quá trình vận chuyển đường dài từ Anh về Việt Nam gây stress thể trạng trong 2 tuần đầu. Thêm vào đó, điều kiện chuồng trại tại thời điểm nghiên cứu chưa được trang bị hệ thống giàn mát tự động, dẫn đến hiện tượng sốc nhiệt mùa hè ở giai đoạn 19 - 24 tuần tuổi. Về khả năng sinh sản, tỷ lệ đẻ ổn định xấp xỉ 70% cùng mức tiêu tốn thức ăn dưới 5,0 kg/10 quả trứng cho thấy phương thức nuôi khô hoàn toàn không làm suy giảm năng suất sinh học của vịt giống siêu thịt, mở ra tiềm năng lớn cho mô hình nuôi nhốt công nghiệp khép kín.

Đề xuất và khuyến nghị

Thực hiện lắp đặt hệ thống thông gió làm mát áp suất âm (cooling pad) kết hợp cảm biến nhiệt độ tự động tại các dãy chuồng nuôi hậu bị nhằm duy trì nền nhiệt chuồng ở mức 22°C - 26°C, giảm tỷ lệ hao hụt đàn xuống dưới 5% trong vòng 6 tháng tới do Ban quản lý trang trại giống chủ trì.

Áp dụng quy trình kiểm soát khẩu phần ăn hạn chế nghiêm ngặt trong giai đoạn 9 - 24 tuần tuổi với hàm lượng protein thô 15,50% và năng lượng trao đổi 2.800 kcal/kg ME nhằm khống chế khối lượng cơ thể đạt chuẩn kỹ thuật khoảng 3.200g - 3.900g đối với dòng mái trước khi chuyển sang giai đoạn sinh sản, thực hiện định kỳ theo từng lứa nuôi do kỹ sư dinh dưỡng phụ trách.

Chuẩn hóa quy trình úm vịt con 0 - 4 tuần tuổi bằng việc duy trì mật độ nuôi 15 - 30 con/m², nhiệt độ sưởi từ 28°C đến 35°C và chiếu sáng 24/24 giờ, kết hợp bổ sung chất điện giải chống stress vận chuyển nhằm nâng tỷ lệ nuôi sống giai đoạn đầu lên trên 96% trong quý tới do đội ngũ kỹ thuật thú y thực hiện.

Cải tiến chế độ vi khí hậu phòng ấp trứng với tần suất đảo trứng 8 - 12 lần/ngày, kết hợp quy trình làm mát và phun sương ẩm nhân tạo định kỳ 2 - 3 lần/ngày để tăng độ dày màng phôi, phấn đấu nâng tỷ lệ ấp nở trên tổng trứng có phôi từ mức 72% - 74% hiện tại lên trên 80% trong 12 tháng tiếp theo do Trạm ấp giống đảm nhiệm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Doanh nghiệp và chủ trang trại chăn nuôi gia cầm công nghiệp: Khai thác trực tiếp các định mức kỹ thuật về tiêu tốn thức ăn 4,84 - 4,91 kg/10 trứng và tỷ lệ ghép trống mái 1/4 để tính toán bài toán chi phí đầu tư và chuyển đổi sang mô hình nuôi vịt khô an toàn sinh học.

Kỹ sư di truyền và chọn giống vật nuôi: Sử dụng số liệu biến động khối lượng từ 1 ngày tuổi đến 24 tuần tuổi của 4 dòng A, B, C, D để xây dựng phả hệ, tối ưu hóa các tổ hợp lai thương phẩm đạt năng suất thịt vượt trội.

Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên ngành Chăn nuôi - Thú y: Tham khảo phương pháp bố trí thí nghiệm lặp lại 3 lần, quy trình đo đạc chỉ tiêu trứng bằng đơn vị Haugh và mô hình xử lý phương sai ANOVA làm tài liệu giảng dạy, học tập chuyên sâu.

Cán bộ khuyến nông và cơ quan quản lý nông nghiệp địa phương: Vận dụng kết quả thực nghiệm để ban hành tài liệu hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi gia cầm thích ứng với điều kiện thiếu nguồn nước tự nhiên và kiểm soát dịch bệnh vùng nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

Phương thức nuôi hoàn toàn trên cạn không có nước bơi lội có làm giảm tỷ lệ đẻ trứng của vịt SM3 không? Phương thức nuôi khô hoàn toàn không làm suy giảm năng suất sinh sản mà vẫn duy trì tỷ lệ đẻ trung bình đạt 69,20% ở dòng B và 70,27% ở dòng D trong suốt 40 tuần đẻ. Chất lượng vỏ và các chỉ số lòng đỏ, lòng trắng đều đạt tiêu chuẩn trứng giống công nghiệp.

Khối lượng xuất chuồng giai đoạn hậu bị lúc 24 tuần tuổi của các dòng vịt đạt bao nhiêu? Kết thúc 24 tuần tuổi, vịt dòng trống A đạt khối lượng 4.716,00g, dòng mái B đạt 3.931,33g, dòng trống C đạt 4.139,33g và dòng mái D đạt 3.220,67g. Tầm vóc này vượt trội hơn từ 15% đến 25% so với các thế hệ vịt Super Meat nhập nội trong các giai đoạn trước.

Mức tiêu hao thức ăn để sản xuất 10 quả trứng giống SM3 là bao nhiêu? Trong 40 tuần đẻ, mức tiêu tốn thức ăn trung bình để sản xuất 10 quả trứng là 4,84 kg đối với dòng mái B và 4,91 kg đối với dòng mái D khi sử dụng khẩu phần thức ăn có hàm lượng protein thô từ 18,5% đến 19,5%.

Yếu tố nào dẫn đến sự suy giảm tỷ lệ nuôi sống của đàn vịt ở giai đoạn hậu bị? Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn 9 - 24 tuần tuổi giảm xuống mức 68,57% - 86,01% chủ yếu do tác động của nhiệt độ môi trường nắng nóng khắc nghiệt vào mùa hè trong điều kiện chuồng trại chưa hoàn thiện hệ thống làm mát bằng tấm pad tự động.

Hiệu quả ấp nở của các tổ hợp lai từ đàn vịt ông bà SM3 đạt mức nào? Tổ hợp lai giữa trống dòng A và mái dòng B đạt tỷ lệ nở trên trứng có phôi là 72,13% với tỷ lệ vịt loại I đạt 87,59%. Tổ hợp giữa trống dòng C và mái dòng D đạt tỷ lệ nở trên trứng có phôi là 73,99% với tỷ lệ vịt loại I đạt 84,82%.

Kết luận

  • Xác lập hệ thống dữ liệu sinh trưởng hoàn chỉnh cho 4 dòng vịt ông bà SM3 nuôi khô với khối lượng 24 tuần tuổi đạt từ 3.220,67g đến 4.716,00g.
  • Đánh giá thành công sức sản xuất sinh sản của 2 dòng mái B và D trong 40 tuần đẻ với tỷ lệ đẻ bình quân đạt từ 69,20% đến 70,27%.
  • Khẳng định tính khả thi của phương thức nuôi vịt không cần ao bơi với mức tiêu tốn thức ăn 4,84 - 4,91 kg/10 trứng và tỷ lệ vịt con loại I trên 84%.
  • Nhận diện chính xác rào cản vi khí hậu chuồng nuôi ảnh hưởng đến tỷ lệ nuôi sống hậu bị ở mức 68,57% - 86,01% để đưa ra giải pháp khắc phục.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực nghiệm vững chắc cho công tác nhân giống thủy cầm an toàn sinh học quy mô công nghiệp tại Việt Nam.

Kế hoạch tiếp theo cần tập trung hoàn thiện quy chuẩn chuồng kín kiểm soát tiểu khí hậu tự động trong vòng 12 tháng tới để tối ưu hóa tỷ lệ sống của đàn giống. Các đơn vị chăn nuôi và nhà khoa học hãy ứng dụng ngay mô hình nuôi khô an toàn sinh học này vào sản xuất thực tiễn để nâng cao năng suất và bảo vệ môi trường chăn nuôi bền vững.