Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sơ khoa học của đề tài 1. Tính trạng số lượng và sự di truyền tính trạng số lượng 1. Tính trạng số lượng Tính trạng số lượng là những tính trạng mà ở đó sai khác giữa các cá thể là sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự sai khác về chủng loại (Trần Huê Viên, 2001).
Tính trạng số lượng còn được gọi là tính trạng đo lường vì sự nghiên cứu giá trị của chúng phụ thuộc vào sự đo lường (như: Tốc độ tăng khối lượng và kích thước các chiều đo của lợn, của trâu; sản lượng sữa của bò. Phần lớn các tính trạng có giá trị kinh tế của vật nuôi đều là tính trạng số lượng và phần lớn sự thay đổi trong quá trình tiến hoá của sinh vật cũng là sự thay đổi của các tính trạng số lượng. Tính trạng số lượng có các đặc trưng sau: + Tính trạng số lượng biến thiên liên tục. + Phân bố tần suất giá trị của tính trạng số lượng là phân bố chuẩn.
+ Là tính trạng do nhiều gen điều khiển, mỗi gen có một tác động nhỏ. + Chịu tác động rất lớn của các yếu tố ngoại cảnh. Sự di truyền của tính trạng số lượng Chúng ta đã biết biểu hiện bên ngoài hoặc các đặc tính bên ngoài của một cá thể được gọi là kiểu hình, kiểu hình này là do kiểu gen và môi trường gây ra. Giá trị đo lường được của tính trạng số lượng trên một cá thể được gọi là giá trị kiểu hình của cá thể đó.
Các giá trị có liên quan với kiểu gen là giá trị kiểu gen và sai lệch môi trường. Như vậy có nghĩa là kiểu gen quy định một giá trị nào đó của cá thể và môi trường gây ra sự sai lệch với giá trị kiểu gen theo hướng này hoặc hướng khác. Quan hệ trên có thể biểu thị như sau: P=G+E Trong đó: P là giá trị kiểu hình, G là giá trị kiểu gen, E là sai lệch môi trường Sai lệch của môi trường của một quần thể bằng không, do đó giá trị trung bình kiểu hình bằng giá trị trung bình kiểu gen. Giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ cấu tạo thành, các gen có hiệu ứng riêng biệt Luan van 4 rất nhỏ, nhưng khi tập hợp nhiều gen sẽ có ảnh hưởng rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu.
Giá trị kiểu gen chịu ảnh hưởng bởi ba loại tác động của các gen, đó là tác động cộng gộp, tác động trội và tác động tương tác, tác động của giá trị di truyền được biểu thị như sau: G=A+D+I Trong đó: G là giá trị kiểu gen; A là giá trị di truyền cộng gộp; D là sai lệch trội; I là sai lệch tương tác. Phân tích giá trị của tính trạng số lượng cho thấy muốn cải tiến năng suất của vật nuôi cần phải tác động cải tiến di truyền (G) bằng cách tác động vào hiệu ứng cộng gộp thông qua các biện pháp chọn lọc. Tác động vào các hiệu ứng trội và át chế bằng các biện pháp tạp giao. Tác động về mặt môi trường bằng cách cải tiến điều kiện chăn nuôi, nâng cao chất lượng thức ăn, cải tiến chuồng trại và các điều kiện môi trường, tăng cường các biện pháp thú y.
Lai giống và ưu thế lai 1. Lai tạo Lai giống là một phương pháp nhân giống trong chăn nuôi, nhằm kết hợp những đặc trưng, đặc tính của bố mẹ vào cơ thể mới. Lai giống là một phương pháp nhằm để tái tổ hợp các kiểu gen của bố mẹ nhằm tạo ra tổ hợp lai mới, từ đó chọn lựa, bồi dưỡng tạo ra giống mới. Theo nghĩa rộng lai giống là cho giao phối giữa các cá thể có kiểu gen khác nhau.
Theo Nguyễn Văn Thiện (1995), lai giống sẽ tạo ra con lai có nhiều ưu điểm mới, nâng cao tầm vóc, khả năng cho thịt, cải thiện chất lượng thịt của các thế hệ lai khi vẫn giữ được những ưu thế về khả năng chịu đựng, thích nghi cao của các giống địa phương. Lai giống là phương pháp nhân giống được ứng dụng rộng rãi trong nhân giống bò thịt nhằm tăng mức độ dị hợp và giảm mức độ đồng hợp. Phương pháp nhân giồng này làm cho tần số kiểu gen đồng hợp tử ở thế hệ sau giảm đi còn tần số kiểu gen dị hợp tử tăng lên. Ưu thế lai Ưu thế lai là hiện tượng sinh vật học biểu hiện ở sự phát triển mạnh mẽ của những cơ thể do lai tạo các con gốc không cùng huyết thống.
Có thể hiểu ưu thế lai Luan van 5 theo nghĩa toàn bộ, tức là sự phát triển toàn khối của cơ thể con vật, sự tăng thêm cường độ trong các quá trình trao đổi chất, tăng sản lượng các mặt. Mặt khác, theo nghĩa từng tính trạng, có khi chỉ một vài tính trạng phát triển mạnh còn những tính trạng khác có khi vẫn nguyên, có trường hợp còn giảm đi. Cũng có thể xem ưu thế lai là hiện tượng đời con hơn hẳn các chỉ tiêu của bố mẹ gốc (Trần Huê Viên, 2001). Ưu thế lai là hiện tượng con lai có sức sống, sức chống đỡ bệnh tật và năng suất cao hơn mức trung bình của thế hệ bố mẹ chúng (Đặng Vũ Bình, 2000).
Ưu thế lai thường được biểu hiện cao nhất ở đời sau rồi sau đó giảm dần do các thế hệ sau mức độ dị hợp giảm dần. Ưu thế lai làm tăng mức độ dị hợp tử, giảm mức độ đồng hợp tử của các kiểu gen. Hai quần thể vật nuôi càng khác biệt với nhau về di truyền bao nhiêu thì ưu thế lai thu được giữa chúng càng lớn bấy nhiêu. Ưu thế lai cao nhất ở con F1, ưu thế lai ở con lai F2 (giao phối giữa F1 với F1, hoặc giữa F1với giống hoặc dòng bố, mẹ khởi đầu) chỉ bằng 1/2 ưu thế lai của F1.
Trong chăn nuôi, ưu thế lai thường biểu hiện ở các dạng sau: - Con lai thế hệ thứ nhất hơn hẳn bố mẹ chúng về thể khối lượng và sức sống. - Con lai thế hệ thứ nhất chiếm vị trí trung gian về thể khối lượng, nhưng hơn hẳn bố mẹ về độ mắn đẻ và sức sống. - Con lai thế hệ thứ nhất ưu việt về thể chất, khỏe mạnh, tuổi thọ, sức kéo nhưng mất hoàn toàn hoặc một phần sức sinh sản. - Con lai về sản lượng không hơn mức cao nhất của bố hoặc mẹ, nhưng vẫn cao hơn chỉ số mức trung bình cộng của bố và mẹ.
Loại này chưa được nhiều người thừa nhận (Nguyễn Minh Hoàn, 2005). Ứng dụng lai giống trong chăn nuôi bò tại Việt Nam a. Các chương trình lai tạo trong chăn nuôi bò Hiện nay, những biện pháp nhằm nâng cao khả năng sản xuất thịt trong ngành chăn nuôi bò thịt đang được áp dụng ở nước ta là lai kinh tế và lai cải tiến giữa bò chuyên dụng thịt với bò nội trong nước, các chương trình lai tạo đàn bò ở Việt Nam: - Chương trình “Sind hoá” đàn bò vàng Việt Nam được thực hiện bằng cách sử dụng bò đực ngoại gốc nhiệt đới có tầm vóc lớn hơn như bò Red Sindhi, Sahiwal Luan van 6 và Brahman cho phối giống với bò cái địa phương để nâng cao tầm vóc và năng suất, bò lai F1 có tốc độ sinh trưởng và phát triển khá tốt, hơn hẳn giống bò địa phương làm tiền đề cho những bước cải tiến tiếp theo hướng sữa hoặc hướng thịt. Các giống bò Zebu được nhập vào nước ta trong chương trình cải tạo này bao gồm: + Bò Red Sindhi và bò Sahiwal nhập từ Pakistan trong thời gian 1985 - 1987.
+ Bò Brahman đỏ và trắng nhập từ Cuba năm 1987 và từ Australia trong những năm 2001-2005. - Xuất phát từ nhu cầu của thị trường trong nước và tiến tới xuất khẩu, đồng thời để từng bước tạo ra đàn bò thịt của Việt Nam, một số giống bò thịt (đực giống hay tinh đông lạnh của chúng) như bò Charolais, Limousine, Hereford, Simental, Droughtmaster, Santa Gertrudis, BBB.đã được nhập để phục vụ chương trình lai tạo, con lai giữa các giống bò thịt chuyên dụng này với bò cái nền đã được cải tiến và cho năng suất thịt tương đối tốt. Công tác lai tạo đàn bò trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Bò cái nền lai Sind, lai Zêbu chủ yếu được thụ tinh nhân tạo (TTNT) với tinh bò đực các giống cao sản như Droughtmaster; BBB; Brahman, Red Sindhi, Senepol… tạo ra con lai có năng suất và chất lượng thịt tốt hơn hẳn. Cụ thể: - Bò hướng sinh sản: Bò sinh ra từ tinh bò Red Sindhi nhập ngoại có khối lượng bê sơ sinh 18 - 20 kg/con, bê lai Red Sindhi 03 tháng tuổi đạt 50 - 60 kg, bê 06 tháng tuổi đạt 100 - 120 kg/con.
Bê có ngoại hình đẹp, phù hợp làm cái nền. - Bê hướng thịt: Bê hướng thịt sinh ra từ TTNT bê sinh trưởng nhanh, dễ nuôi ngoại hình đẹp, một số giống: + Bê F1 BBB sinh ra khối lượng từ 28 - 32kg/con. Khối lượng thời điểm 18 tháng tuổi đạt 430-450 kg/con. Tỷ lệ thịt xẻ đạt 63%; tỷ lệ thịt tinh đạt 53%.
+ Bê lai F1 Senepol sinh ra khối lượng từ 22 - 24kg/con, đến 35 ngày tuổi đạt 60 - 66 kg/con. Khả năng sinh trưởng và sản xuất thịt của bò 1. Khái niệm sinh trưởng Sinh trưởng là một quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng các kích thước như chiều cao, chiều dài, bề ngang, tăng khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể trên tính di truyền. Quá trình sinh trưởng gắn liền với Luan van 7 quá trình phát triển của cơ thể; đó là sự hình thành các tổ chức, bộ phận mới và sự hoàn thiện tính chất và chức năng của các bộ phận trong cơ thể, đó là sự phát triển toàn diện của cơ thể cả về hình thái và chức năng trên cơ sở tính di truyền.
Sinh trưởng và phát dục cùng diễn ra trong cơ thể, trong sự phát triển chung của cơ thể không tách rời nhau và không mâu thuẫn với nhau, cùng tồn tại và hỗ trợ nhau phát triển tạo cho cơ thể gia súc hoàn thiện các chức năng. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và sản xuất thịt của bò Ảnh hưởng của dinh dưỡng Sức sản xuất của bò thịt trước tiên phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng. Có thể thấy ảnh hưởng của các mức dinh dưỡng khác nhau đến thành phần mô cơ trong thân thịt, mức độ dinh dưỡng cao thì tỷ lệ mỡ và cơ thân thịt cao, còn mô liên kết và xương giảm thấp. Mức dinh dưỡng thấp làm giảm giá trị năng lượng của thịt, tăng tỷ lệ xương và mô liên kết.