Chương 1 TỔNG QUAN 1. Dịch tễ học chửa sẹo mổ lấy thai Chửa sẹo mổ lấy thai (Cesarean Scar Pregnancy – CSP) là một dạng thai ngoài tử cung do thai làm tổ tại vết sẹo mổ lấy thai trên cơ cung. Đây là hình thái hiếm gặp của thai ngoài tử cung và thường gây hậu quả sảy thai sớm, rau cài răng lược, vỡ tử cung [3].1: Các vị trí làm tổ của thai ngoài tử cung [33] Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thế giới cho thấy tỷ lệ chửa sẹo mổ lấy thai khác nhau: Theo Rotas tỷ lệ chửa tại sẹo mổ lấy thai là 1/2216 đến 1/800 trường hợp có thai bình thường [47]. Theo Ron Maymon tỷ lệ này 1/3000 trường hợp có thai và 1/531 đối với những người đã có ít nhất 1 lần mổ lấy thai [40].
Theo Diêm Thị Thanh Thuỷ tỷ lệ này là 1/1100, trong đó 0,33% chửa sẹo mổ lấy thai xuất hiện ở bệnh nhân có tiền sử mổ lấy thai ít nhất 1 lần [21]. 4 Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Học và cộng sự thì tỷ lệ chửa sẹo mổ lấy thai chiếm 0,15% số ca mổ lấy thai và 1,08 % số ca chửa ngoài tử cung, tuổi thai phát hiện trung bình là 5,9 ± 1,5 tuần, nhóm nhiều nhất là 4-5 tuần [11]. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ của chửa sẹo mổ lấy thai 1. Nguyên nhân Nguyên nhân đưa đến chửa sẹo mổ lấy thai chưa rõ đa số các tác giả chấp nhận nguyên nhân là do khiếm khuyết của sẹo mổ lấy thai tạo khe hở vi thể tạo điều kiện cho phôi thai bám vào.
Hiện tại chưa rõ nguyên nhân này có liên quan đến số lần mổ lấy thai hay không, có liên quan đến kỹ thuật khâu cơ tử cung 1 lớp hay 2 lớp không [48]. Các yếu tố nguy cơ - Sẹo mổ lấy thai càng nhiều lần thì tỷ lệ gặp chửa sẹo mổ lấy thai càng tăng. Theo Maria và cộng sự thì số ca mổ lấy thai (MLT) ngày càng gia tăng với xu hướng mổ lấy thai theo yêu cầu thì tỷ lệ chửa sẹo mổ lấy thai tăng lên ở lần mang thai tiếp theo [26]. Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thức về số lần mổ lấy thai của bệnh nhân CSMLT, ghi nhận số lần mổ lấy thai 2 lần chiếm tỷ lệ cao nhất với 58,1%.
Số sản phụ có trên 3 lần mổ lấy thai chiếm tỷ lệ 11,3%. Một số nguyên nhân được tìm hiểu làm tỷ lệ mổ lấy thai tăng lên là do các yếu tố xã hội, mổ lấy thai theo yêu cầu của sản phụ và gia đình [20]. Trong nghiên cứu của Trần Việt Khánh và Nguyễn Kim Anh cũng cho thấy tỷ lệ có mổ lấy thai từ 2 lần trở lên ở các bệnh nhân chửa sẹo mổ lấy thai là 59,09 % [14]. - Tiền sử rau bám chặt, rau cài răng lược một phần hoặc hoàn toàn điều trị bảo tồn ở lần sinh đẻ trước.
- Tiền sử phẫu thuật trên cơ tử cung: bóc nhân xơ, tạo hình tử cung, … [8] - Tiền sử chửa ngoài tử cung, chửa tại ống cổ tử cung 5 - Hỗ trợ sinh sản: IUI, IVF, chuyển nhiều phôi cũng làm tăng nguy cơ chửa ngoài tử cung cũng như chửa sẹo mổ lấy thai [45]. - Tiền sử nạo phá thai nhiều lần. Trong nghiên cứu của Đỗ Thị Ngọc Lan và cộng sự thấy có đến 68,7 % bệnh nhân chửa sẹo mổ lấy thai có tiền sử nạo hút thai ít nhất 1 lần [15]. Sinh bệnh học chửa sẹo mổ lấy thai - Cơ chế bệnh sinh của chửa sẹo mổ lấy thai vẫn chưa được hiểu rõ hoàn toàn.
Giả thuyết được chấp nhận nhiều nhất là nguyên bào nuôi làm tổ ở khuyết sẹo nhỏ tại vết sẹo trên cơ tử cung do mổ lấy thai cũ hay sẹo mổ ở tử cung [27] [41]. Do tính chất xơ của mô sẹo, sự làm tổ ở vị trí vốn bị thiếu lớp cơ này sẽ dẫn đến nguy cơ nứt vết mổ lấy thai, rau cài răng lược và xuất huyết khi túi thai phát triển lớn lên. - Trong thời kỳ mang thai bình thường, nguyên bào nuôi xâm nhập vào nội mạc tử cung và tái cấu trúc hệ thống mạch máu để cho phép dòng máu có sức cản thấp/tốc độ cao đến thai nhi. Sự xâm lấn sinh lý này bị chặn lại bởi một lớp fibrin, nằm giữa vùng ranh giới của nội mạc tử cung và rau thai.
Lớp này hiện diện tự nhiên giữa nội mạc tử cung và bánh nhau bám bình thường. Các phẫu thuật tử cung trước đây hoặc can thiệp vào tử cung dẫn đến lớp màng rụng mỏng hoặc không có ở vùng sẹo ở đoạn dưới tử cung dẫn đến sự xâm nhập không bị cản trở của nguyên bào nuôi được và kết quả tạo ra rau cài răng lược [52]. - Chửa sẹo mổ lấy thai và rau cài răng lược dường như có chung nguồn gốc bệnh sinh, là những giai đoạn khác nhau của cùng một phổ bệnh lý. Hình ảnh trên mô bệnh học của cả hai nhóm đều là sự xâm lấn của các gai nhau vào mô sẹo hoặc cơ tử cung với rất ít hoặc không có xâm lấn của màng rụng [42].
Phân loại chửa sẹo mổ lấy thai - Vial và cộng sự đề xuất phân thành 2 hình thái [71]: 6 + Hình thái thứ nhất (on the scar): gai rau xâm nhập vào phía trước sẹo mổ lấy thai có xu hướng phát triển về phía eo - cổ tử cung hoặc hướng lên trên buồng tử cung. Dạng này thai có thể phát triển sống được nhưng nguy cơ chảy máu rất cao. + Hình thái thứ hai (in the niche): gai rau thâm nhập sâu vào trong sẹo mổ lấy thai và có xu hướng phát triển vào bàng quang, trong ổ bụng. Dạng này tiến triển dẫn tới vỡ tử cung.
- Theo Zhang và cộng sự phân loại chửa sẹo mổ lấy thai thành 2 nhóm là nhóm có nguy cơ thấp hoặc ổn định và CSMLT nguy cơ cao. + CSMLT nguy cơ thấp hoặc ổn định: không có chảy máu âm đạo rõ ràng hoặc chảy máu âm đạo ít và cũng không tăng đáng kể gonadotrophin (beta- hCG). + CSMLT nguy cơ cao: có nguy cơ xuất huyết trầm trọng và cần được điều trị ngay lập tức. Nhóm nguy cơ chia làm 3 type dựa vào độ dày lớp cơ tử cung giữa túi thai và bàng quang và vị trí của túi thai: type I < 3mm, type II ≥ 3 mm, type III túi thai nằm 1 phần trên sẹo MLT có nguy cơ chảy máu nghiêm trọng, từ cách phân loại này sẽ đưa ra hướng điều trị [70].
- Shin - Yu Lin và cộng sự đã dựa trên hình ảnh siêu âm phân chửa sẹo mổ lấy thai làm 4 loại [39]. + Loại I: Túi thai bám vào sẹo mổ lấy thai và ăn sâu dưới 1/2 lớp cơ thành trước đoạn eo tử cung + Loại II: Túi thai bám vào sẹo mổ lấy thai, và ăn sâu trên 1/2 lớp cơ thành trước đoạn eo tử cung + Loại III: Túi thai bám vào sẹo mổ lấy thai và đẩy lồi lớp cơ và thanh mạc về phía bàng quang + Loại IV: Túi thai hình dạng không xác định với nhiều mạch máu tại vị trí sẹo mổ lấy thai cũ.2: Phân loại chửa sẹo mổ lấy thai trên siêu âm theo Shin - Yu Lin [39] - Năm 2016 có một khái niệm mới trong hình ảnh siêu âm quý I đó là Cross-over sign (COS). Trên mặt cắt dọc giữa tử cung (sagittal), kẻ một đường thẳng nối từ lỗ trong cổ tử cung đến đáy tử cung, nằm giữa nội mạc tử cung (gọi là đường nội mạc tử cung). Xác định vị trí túi thai và đường kính trước sau của túi thai (superior-inferior diameter, SI), đường này vuông góc với đường nội mạc tử cung.
Dựa vào tương quan giữa đường nội mạc tử cung và đường kính trước sau của túi thai, chia ra thành hai nhóm khác nhau [30]: + COS1: Túi thai xâm lấn vào sẹo mổ và mặt trước cơ tử cung đoạn eo, >=2/3 đường kính trước sau của túi thai nằm phía trên đường nội mạc tử cung. + COS2: Túi thai xâm lấn vào sẹo mổ và mặt trước cơ tử cung, <2/3 đường kính trước sau của túi thai nằm trên đường nội mạc tử cung. Những 8 trường hợp này lại được chia thành 2 nhóm là COS2+ và COS2- tùy theo đường kính trước sau của túi thai có cắt hoặc không cắt đường nội mạc tử cung.3: Mô phỏng mối liên quan giữa túi thai, vết mổ cũ và thành trước đoạn eo tử cung trong dấu hiệu COS trên siêu âm [30] 1. Triệu chứng của chửa sẹo mổ lấy thai 1.
Triệu chứng lâm sàng Triệu chứng CSMLT thường không điển hình vì vậy phải dựa trên bệnh cảnh chung của chửa ngoài tử cung nghĩa là những triệu chứng có thai như chậm kinh, đau bụng và ra huyết âm đạo bất thường, tuy nhiên nhiều bệnh nhân có thể có hoặc không có triệu chứng ra huyết, đặc biệt khi khối thai chưa rạn nứt thì hầu như không rỉ máu vào ổ bụng và âm đạo [10]. Khoảng 50% bệnh nhân được phát hiện tình cờ khi thăm khám mà không có triệu chứng bất thường [8]. - Chậm kinh: hầu hết các trường hợp đều có chậm kinh nhưng thời gian từ khi chậm kinh đến khi xuất hiện các triệu chứng thực thể thay đổi tùy theo từng người bệnh. - Ra máu âm đạo bất thường: thường xuất hiện sớm trong 33 - 44% các trường hợp.
Ra máu âm đạo với tính chất ít một, máu sẫm màu [8]. 9 Theo nghiên cứu của Nguyễn Quảng Bắc và Vũ Ngân Hà ở các trường hợp chửa sẹo mổ lấy thai được phẫu thuật tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương thì triệu chứng ra máu âm đạo là hay gặp nhất, chiếm 49,2% [1]. - Đau bụng: gặp ở khoảng 25% trường hợp, đau âm ỉ vùng bụng dưới, triệu chứng đau này không khác so với những trường hợp dọa sảy thai hay chửa ngoài tử cung, cảm giác tức nặng, buồn đi ngoài [8]. Theo Đinh Quốc Hưng triệu chứng đau bụng gặp ở 25,4% trường hợp, trong nghiên cứu của Đỗ Thị Ngọc Lan thì tỷ lệ này là 40,6% [13] [15].
- Băng huyết: ra máu âm đạo ồ ạt ≥ 500ml. Có thể băng huyết tự nhiên. Một vài trường hợp chảy máu cấp tính có nguy cơ vỡ tử cung, dễ nhầm lẫn với sảy thai hoặc chửa ống cổ tử cung chảy máu. Theo nghiên cứu của tác giả Đinh Quốc Hưng 14,1% trường hợp vào viện với triệu chứng băng huyết, trong đó có 4/10 bệnh nhân là băng huyết tự nhiên [13].
- Choáng mất máu cấp tính là triệu chứng của vỡ tử cung. Lúc này khi thăm khám trên lâm sàng bệnh nhân có triệu chứng của bụng ngoại khoa.