Mở đầu - Tổng quan - Vật liệu và phương pháp nghiên cứu - Kết quả và thảo luận Kết luận và kiến nghị 16 CHƯƠNG 2.1 Khái niệm thừa cân, béo phì 2.1 Định nghĩa Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao. Còn béo phì là tình trạng tích lũy mỡ thái quá và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ [6, 7].2 Phân loại béo phì Phân loại béo phì theo sinh bệnh học. -Béo phì đơn thuần (béo phì ngoại sinh): Là béo phì không có nguyên nhân sinh bệnh học rõ ràng. -Béo phì bệnh lý (béo phì nội sinh): Là béo phì do các vấn đề bệnh lý liên quan tới béo gây nên như: + Béo phì do nguyên nhân nội tiết.
+ Béo phì do suy giáp trạng: Thường xuất hiện muộn, béo vừa, chậm lớn, da khô, táo bón và chậm phát triển tinh thần. + Béo phì do cường vỏ thượng thận: Có thể do tổn thương tuyến yên hoặc u tuyến thượng thận, tăng cortisol và insulin huyết thanh, không dung nạp glucose, thường béo ở mặt và thân, kèm theo tăng huyết áp. + Béo phì do thiếu hormon tăng trưởng: Béo phì thường nhẹ hơn so với các nguyên nhân khác, béo chủ yếu ở thân kèm theo chậm lớn. + Béo phì trong hội chứng tăng hormon nang buồng trứng: thường xuất hiện sau dậy thì.
Người béo phì có các dấu hiệu của rậm lông hoặc nam hóa sớm, kinh nguyệt không đều, thường gặp các u nang buồng trứng kèm theo. + Béo phì trong thiểu năng sinh dục. + Béo phì do các bệnh về não: Do tổn thương vùng dưới đồi, u não, chấn thương sọ não, phẫu thuật thần kinh. Các nguyên nhân này gây hủy hoại vùng trung tâm não trung gian, ảnh hưởng đến sức thèm ăn, tăng insulin thứ phát nên thường kèm theo béo phì [8].3 Những yếu tố nguy cơ của thừa cân và béo phì ở trẻ em lứa tuổi học đường Cơ chế bệnh sinh của béo phì Cơ thể giữ được cân nặng ổn định là nhờ trạng thái cân bằng giữa năng lượng do thức ăn cung cấp và năng lượng tiêu hao cho lao động và các hoạt động khác của cơ thể.
Cân nặng cơ thể tăng lên có thể do chế độ ăn dư thừa vượt quá nhu cầu hoặc do nếp sống làm việc tĩnh tại ít tiêu hao năng lượng. Người ta nhận thấy 60% - 80% trường hợp béo phì là do nguyên nhân dinh dưỡng, bên cạnh đó còn có thể do các rối loạn chuyển hóa trong cơ thể thông qua vai trò điều tiết của hệ thống thần kinh và các tuyến nội tiết như tuyến yên, tuyến thượng thận, tuyến giáp trạng và tuyến tụy [9]. Khi vào cơ thể, các chất protein, lipit, gluxit đều có thể chuyển hóa thành chất béo dự trữ. Vì vậy không nên coi ăn nhiều thịt, nhiều mỡ mới gây béo mà ăn quá thừa chất bột, đường, đồ ngọt đều có thể gây béo.
Các hành vi ăn uống có liên quan tới thừa cân và béo phì bao gồm tần suất ăn/ăn vặt, khẩu phần ăn quá dư thừa, ăn uống nhậu nhẹt, ăn thức ăn nhanh ở bên ngoài và vấn đề bú sữa mẹ hoàn toàn. Các yếu tố chất dinh dưỡng được nghiên cứu bao gồm chất béo, các loại carbohydrat (bao gồm các loại carbohydrat tinh chế như đường), chỉ số đường huyết của thực phẩm và chất xơ [9].1 Mô hình nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh của béo phì Theo Trần Thị Xuân Ngọc, 2012. Yếu tố gia đình 18 Một số nghiên cứu đã cho thấy TC, BP có tính gia đình: Càng nhiều cá nhân trong gia đình bị TC thì nguy cơ TC của các thành viên khác trong gia đình càng cao. Hiện nay đã có những bằng chứng kết luận rằng BP thường do yếu tố môi trường tác động lên những cá thể có khuynh hướng di truyền [10, 11].
Yếu tố di truyền Tương tác giữa các gen nhạy cảm với chế độ ăn và lối sống có thể dẫn đến nguy cơ BP. Nhiều nghiên cứu đã xác định vai trò của các yếu tố di truyền đối với sự phát triển của bệnh BP. Nghiên cứu các cặp sinh đôi và gia đình cho thấy ảnh hưởng của yếu tố di truyền (gen) chiếm từ 40 - 70% trong bệnh BP. Các yếu tố di truyền có thể được phân loại theo cơ chế tác động đối với BP như: nhóm gen kích thích sự ngon miệng (Neuropeptide Y, Leptin receptor, P proopiomelanocortin), nhóm liên quan đến tiêu hao năng lượng (Uncoupling proteins), nhóm điều hòa chuyển hóa (Beta-2 adrenergic receptor, Beta-3 adrenergic receptor), nhóm liên quan đến sự biệt hóa và phát triển tế bào mỡ (Peroxisome proliferator-activated receptor, Vitamin D receptor, Retinoid X receptor) [12], [13].
Khẩu phần và thói quen ăn uống của trẻ thừa cân, béo phì: Qua nhiều thập kỉ nghiên cứu, người ta đã phát hiện ra mối liên quan giữa chế độ ăn và tỷ lệ TC, BP ở trẻ em. Theo Grund A và cs nghiên cứu thuần tập ở trẻ từ 3 - 5 tuổi cho thấy tăng % mỡ ăn vào làm tăng chỉ số BMI, ngược lại. Hoạt động thể lực và béo phì Cân bằng năng lượng phụ thuộc vào năng lượng ăn vào và năng lượng tiêu hao. Ngày nay, sự gia tăng tiêu thụ các thực phẩm giàu năng lượng cùng với giảm hoạt động thể lực của người dân thành thị đang làm gia tăng tình trạng TC, BP.
Để giảm cân cần phải kết hợp đồng thời giữa việc giảm năng lượng ăn vào và tăng hoạt động thể lực. và cộng sự đã định nghĩa “sự duy trì cân nặng” là mức độ thay đổi của cân nặng không quá 3% trọng lượng cơ thể. Khi mức độ này dao động từ 3% - 5% được gọi là có sự thay đổi cân nặng nhẹ. Khi mức độ thay đổi này đạt mức từ 5% trở lên được gọi là có sự thay đổi cân nặng rõ rệt [14].2 Truyền thông giáo dục dinh dưỡng đối với học sinh 19 Truyền thông giáo dục dinh dưỡng đối với học sinh là những hoạt động, những nỗ lực có mục đích, có kế hoạch nhằm thay đổi kiến thức, thái độ, hành vi của các nhóm đối tượng về những vấn đề có liên quan đến dinh dưỡng, để cải thiện được tình trạng dinh dưỡng, phòng chống các bệnh do dinh dưỡng cho các nhóm đối tượng trong cộng đồng [15].
Truyền thông giáo dục dinh dưỡng dù trực tiếp hay gián tiếp là một quá trình hai chiều và được đặc trưng bởi các yếu tố: - Nguồn truyền thông: Tin cậy và thuyết phục. - Thông điệp truyền thông: Ngắn, gọn, rõ, hấp dẫn và phù hợp. - Kênh chuyển tải thông điệp: Đảm bảo tính tiếp cận được cho đối tượng và mức độ thường xuyên. - Nơi nhận thông điệp: Sẵn sàng và tích cực tiếp nhận thông điệp và đáp ứng - Các yếu tố ảnh hưởng: Yếu tố nhiễu cần được loại bỏ, môi trường thuận lợi cần được tạo dựng.
Mục tiêu cuối cùng là làm cho đối tượng thay đổi hành vi dinh dưỡng không hợp lý và thực hành hành vi dinh dưỡng theo hướng có lợi cho sức khoẻ. Sự thay đổi hành vi này là quá trình nhiều bước và tiến triển dưới tác động của các yếu tố tâm lý, xã hội và các hoạt động TTGDDD làm cho đối tượng có thể: - Nhận thức ra vấn đề. - Quan tâm thực sự đến vấn đề. - Tự suy xét và cam kết.
- Làm thử, hành động thử. - Đánh giá kết quả. - Áp dụng và duy trì.3 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, can thiệp truyền thông dinh dưỡng trên thế giới. Trên thế giới, thừa cân và béo phì là yếu tố nguy cơ thứ 5 gây tử vong với gần 2,8 triệu người trưởng thành tử vong hàng năm.
Bên cạnh đó, 44% bị béo phì, 23% 20 thiếu máu cục bộ ở tim và từ 7% đến 41% mắc một số bệnh ung thư có nguyên nhân từ thừa cân và béo phì. Trong 3 thập kỷ qua (1980 – 2010) số ca béo phì đã tăng gấp đôi trên toàn thế giới [16]. Chính vì thế các nhà khoa học đã nghiên cứu can thiệp truyền thông giáo dục dinh dưỡng cho mọi người đặc biệt là ở lứa tuổi học sinh nhằm giảm tỷ lệ thừa cân béo phì. Trong những năm gần đây, theo Sajid Mahmood và cộng sự (2014) đã nghiên cứu “Hiệu quả của các Chương trình Can thiệp tại Trường học trong việc giảm tỷ lệ thừa cân ở Ấn Độ”.
Nghiên cứu trên 3.904 học sinh đã được thu nhận. Tuổi trung bình của học sinh (nam và nữ) dao động từ 8,6-12,6 tuổi. Phân tích gộp cho thấy tác động có lợi có ý nghĩa thống kê của các chương trình can thiệp tại trường học đối với tình trạng béo phì của học sinh (tỷ lệ nguy cơ (RR) 0,58, khoảng tin cậy 95% (CI) 0,43- 0,78) và gợi ý giảm 42% tỷ lệ béo phì ở học sinh đi học thông qua các chương trình can thiệp tại trường học. Các nghiên cứu cá nhân cũng cho thấy hiệu quả của các biện pháp can thiệp ở trường học này.
Phần kết luận: Các chương trình can thiệp tại trường học có hiệu quả trong việc ngăn ngừa vấn đề thừa cân và béo phì ở trẻ em và kết quả của chúng tôi đã hỗ trợ định lượng cho lập luận này [17]. Pérez Solís và cộng sự (2015) đã nghiên cứu “Hiệu quả của chương trình phòng chống béo phì dựa vào trường học tại Tây Ban Nha”. Thử nghiệm đối chứng không ngẫu nhiên được thực hiện trên trẻ em từ lớp một đến lớp năm của hai trường công lập Avilés (Tây Ban Nha). Sự can thiệp kéo dài trong 2 năm học bao gồm hội thảo về chế độ ăn uống lành mạnh, trò chuyện giáo dục, cuộc họp giáo dục, tài liệu viết thông tin và khuyến khích các hoạt động thể chất.
Phép đo kết quả chính là chỉ số khối cơ thể z -score. Kết quả phụ bao gồm tỷ lệ béo phì và thừa cân, vòng eo, thói quen ăn kiêng và hoạt động thể chất [18]. Nghiên cứu bao gồm 382 trong tổng số 526 học sinh theo học từ năm thứ nhất đến năm thứ năm của giáo dục tiểu học tại hai trường (177 nữ sinh, 205 nam sinh), với độ tuổi trung bình ban đầu là 8,4 tuổi (khoảng 5,8–11,8 tuổi). Một trăm bốn mươi bốn sinh viên từ chối tham gia.
Chúng tôi đã thu được toàn bộ dữ liệu nhân trắc học của 340 trong số 382 người tham gia (162 trẻ em gái, 178 trẻ em trai) [18]. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tổng số 382 (177 nữ và 205 nam) trong số 526 học sinh của cả hai trường được đưa vào nghiên cứu. Dữ liệu nhân trắc học hoàn chỉnh thu được ở 340 trong số 382 cá nhân.