CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan đặc điểm lâm sàng, X quang răng khôn hàm dưới 1. Sự hình thành và mọc răng khôn hàm dưới Mầm răng khôn hàm dưới có chung thừng liên bào với răng hàm lớn thứ nhất và thứ hai. Từ tuần lễ thứ 16 bào thai, từ bó tự do phía xa của lá răng nguyên thủy hàm sữa thứ hai, xuất hiện một dây biểu bì.
Đó là nụ biểu bì của mầm răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất. Sau đó, biểu bì vẫn tiếp tục phát triển lan về phía xa, cho nụ biểu bì răng hàm lớn thứ 2 vào tháng thứ 9 của bào thai. Cuối cùng nụ biểu bì của răng khôn được hình thành khoảng 4-5 tuổi. Quá trình hình thành và phát triển của răng khôn hàm dưới cũng trải qua các giai đoạn giống như các răng vĩnh viễn khác.
Giai đoạn hoàn thiện thân răng và calci hóa lúc khoảng 12-15 tuổi, giai đoạn hoàn thiện chân răng khoảng 18-25 tuổi. Quá trình phát triển của cành lên xương hàm dưới bị lùi về phía xa. Vì vậy, mầm răng khôn cũng bị xoay chuyển theo ở giai đoạn hình thành thân răng từ 4- 13 tuổi. Thời kỳ hình thành chân răng, thân răng xoay dần đứng ở phía xa răng số 7 để mọc.
Quá trình này có thể có nhiều yếu tố tác động đến, vì vậy mà răng khôn có thể không mọc được ở vị trí bình thường và thẳng đứng như các răng khác. Chúng có thể mọc lệch, lạc chỗ, kẹt, thậm chí không mọc lên được, chính vì vậy nó gây ra nhiều rối loạn bệnh lý khác nhau. Giải phẫu răng khôn Răng khôn hàm trên hay dưới đều là những răng khó dự đoán nhất trên bộ răng người. Về mặt hình thái học, chúng có thể có tất cả các dạng răng hàm lớn có thể có được, có thể có từ một đến ba chân, có thể ba chân dính với nhau, có thể có từ một đến tám múi.
Nhìn phía ngoài, thân răng có rất nhiều biến thể nên không thể xác định các đặc điểm cố định. Đặc điểm riêng giúp phân biệt đáng tin cậy nhất là hai chân răng: chúng thường ngắn, sát nhau hoặc dính nhau và nghiêng xa rất rõ. Mặt trong khó phân biệt với răng hàm lớn thứ nhất và thứ hai, nhưng đôi khi lại rất dễ nhận các khác biệt sau đây: thân răng ngắn với đường viền trông lồi và tròn, các múi tròn, các chân răng ngắn, gần nhau hay dính với nhau và nghiêng xa rõ. Nhìn phía gần, đường viền thân răng lồi nhiều.
Đường viền phía gần và phía xa cũng tròn và lồi nhiều, điểm lồi tối đa ở phần ba giữa. Ngoài ra khoảng cách giữa hai đỉnh múi ngoài và trong nhỏ hơn ở hai răng hàm lớn thứ nhất và thứ hai. Chiều ngoài trong của chân gần khá rộng và ngắn. Nhìn phía xa, thân răng tròn và lồi nhiều.
Mặt nhai thu hẹp nhiều. Có thể thấy gần như toàn bộ mặt ngoài. Chân xa thường hẹp nhất và ngắn nhất. Nhìn phía nhai, thân răng thường có hình bầu dục.
Phần phía gần có chiều ngoài trong rộng hơn phần phía xa. Đường viền phía ngoài và phía trong hội tụ rõ rệt về phía xa. Bản nhai có hình bầu dục. Thường có bốn múi nhỏ, hình thể thất thường và tròn hơn so với các múi của các răng hàm lớn khác.
Các gờ bên 5 không thẳng theo chiều ngoài trong, mà cong lồi nối các gờ múi ngoài, trong. Đặc biệt nhất là sự thất thường của mẫu hố rãnh. Rãnh chính thường ngắn và có hướng không nhất định. Ngoài ra mặt nhai có rất nhiều rãnh phụ.
Hình thể răng khôn Răng khôn hàm dưới có rất nhiều biến thể, không thể liệt kê và mô tả hết. Chân răng có nhiều biến thể về số lượng và hình dạng hơn thân răng. Thường thì chúng dính nhau nhưng cũng có khi có đến bốn chân riêng rẽ. Cũng có khi có chân phụ mọc ra như một nhánh từ chân chính.
Tỉ lệ răng khôn hàm dưới mọc lệch, ngầm Theo nghiên cứu của Dachi và Howell (1961), đã điều tra 3874 thanh niên 20 tuổi thì 17% có một răng kẹt. [6] Theo Mai Đình Hưng tổng kết 83 trường hợp phẫu thuật răng khôn hàm dưới tại Khoa Răng Hàm Mặt Bệnh viện Bạch Mai từ 6/1971 – 10/1972, cho thấy tư thế răng khôn như sau: răng khôn lệch gần < 450 chiếm 25,3%; răng khôn lệch gần 450 – 900 chiếm 44,6%; răng khôn lệch má chiếm 7%; răng khôn lệch xa chiếm 1,2%; răng khôn ngầm đứng chiếm 6%; răng khôn lệch gần chìm trong xương chiếm 2,4%; răng khôn mọc thẳng bình thường chiếm 13,5%. [7] 6 Theo Mai Đình Hưng (1995), báo cáo trên 72 sinh viên răng hàm mặt ở Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: Răng khôn lệch gần chiếm 43,2%, lệch xa chiếm 6,8%, nằm ngang chiếm 36,4%, lộn ngược chiếm 6,8% và răng khôn mọc thẳng có túi viêm là 6,8%. [8] Lưu Văn Hồng (2006), cho thấy răng khôn có trục lệch gần chiếm 44%, răng khôn mọc thẳng chiếm 34%, răng ngầm trong xương chiếm 2%.
[9] Nguyễn Mạnh Hà, Bùi Thanh Ngoan (2011), thống kê trên 81 răng số 8 hàm dưới tỉ lệ răng số 8 lệch gần chiếm 67,9%, mọc thẳng chiếm 18,5%, lệch xa chiếm 4,9%. [1] Lê Anh Chiến, Nguyễn Mạnh Hà nghiên cứu trên 206 người bệnh với 393 răng số 8 hàm dưới qua phim panorama cho thấy có 55,6% lệch gần, trong đó lệch gần <450 chiếm 61,7%, lệch gần 450-900 chiếm 19,4% và >900 chiếm 18,9%. Tỉ lệ răng số 8 lệch xa chiếm 9,4%, mọc ngầm chiếm 1,9% và mọc thẳng chiếm 34,4%. Phân theo tương quan về độ sâu so với răng số 7 cho thấy vị trí A chiếm 78,4%, vị trí B chiếm 20,8% và vị trí C chiếm 0,76%.
Những nguyên nhân răng khôn hàm dưới mọc lệch, ngầm 1. Nguyên nhân tại chỗ Có nhiều yếu tố liên quan tới quá trình mọc răng như: Mầm răng, xương ổ răng, niêm mạc lợi, sự phát triển sọ mặt. ❖ Mầm răng không đủ các yếu tố để mọc: − Không có cơ quan tạo men − Không có dây chằng Sharpey. 7 − Giai đoạn hình thành túi răng không đầy đủ − Tủy răng bị thiểu sản, nuôi dưỡng kém.
❖ Do xương ổ răng: − Thân răng không vượt qua được các cản trở như niêm mạc, xương ổ răng. − Tổ chức xương trên đường mọc lên của răng bị xơ hóa do nang hay nhiễm trùng… ❖ Do lợi: − Lợi vùng phía trên của răng quá dày, sừng hóa có thể cản trở quá trình mọc răng. ❖ Do thiếu chỗ để mọc: − Mầm răng khôn hàm dưới có chung thừng liên bào với răng hàm lớn thứ nhất và thứ hai mà 2 răng này lại mọc lên trước nên mầm răng khôn phần thân thường bị kéo lệch về phía gần. − Răng khôn mọc muộn nhất trên cung hàm nên thường thiếu chỗ gây mọc lệch, kẹt hay ngầm.
− Thiếu chỗ trên cung răng, không tương xứng kích thước giữa răng và xương hàm. Nguyên nhân toàn thân − Còi xương suy dinh dưỡng, rối loạn nội tiết, thiếu máu, giang mai…. − Dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt. 8 − Một số bệnh lý làm rối loạn hoặc kém phát triển sọ mặt, đặc biệt là xương hàm dưới làm ảnh hưởng tới sự mọc răng khôn.
Một số phân loại răng khôn hàm dưới Răng khôn hàm dưới mọc lệch, ngầm có rất nhiều cách phân loại, sắp xếp. Mục đích của việc phân loại là để tiên lượng và vạch ra kế hoạch phẫu thuật cho từng loại cụ thể. Theo Pell, Gregory và Winter dựa vào lâm sàng và X quang để phân loại. Theo quan điểm của Parant dựa vào kỹ thuật phẫu thuật phải sử dụng để phân loại.
Phân loại của Pell, Gregory và Winter ❖ Dựa vào tương quan của thân răng khôn và khoảng rộng xương giữa mặt xa răng số 7 và phần cành cao xương hàm dưới [1]: Hình 1. Tương quan thân răng khôn và khoảng rộng xương giữa mặt xa răng 7 và phần cành cao xương hàm dưới 9 − Loại I: Khoảng giữa bờ xa răng số 7 và phần trước cành cao (a) bằng hoặc lớn hơn bề rộng gần – xa của thân răng khôn (b): a ≥b. − Loại II: Khoảng a < b, nghĩa là khoảng giữa bờ xa răng số 7 và bờ trước cành cao nhỏ hơn bề rộng gần – xa của thân răng khôn. − Loại III: Răng khôn nằm chìm hoàn toàn trong xương.
❖ Dựa vào độ sâu của răng khôn so với mặt cắn răng số 7 [1] − Vị trí A: Khi điểm cao nhất (H) của răng khôn nằm ngang hay cao hơn mặt cắn răng số 7. − Vị trí B: Khi điểm cao nhất của răng khôn nằm giữa mặt cắn và cổ răng số 7. − Vị trí C: Khi điểm cao nhất nằm thấp hơn cổ răng số 7. Vị trí độ sâu răng khôn so với mặt cắn răng số 7 [10] 10 ❖ Dựa vào vị trí của trục răng khôn so với trục răng số 7 Có 7 tư thế lệch của trục răng khôn so với trục răng số 7 và mỗi loại có thể phối hợp với sự xoay.
Răng khôn lệch gần so với răng 7 [2] Hình 1. Răng khôn lệch xa so với răng 7 [2] 11 Hình 1. Răng khôn mọc thẳng so với răng 7 [2] Hình 1. Răng khôn mọc nằm ngang so với răng 7 [2] Hình 1.
Răng khôn lệch má so với răng 7 [2] 12 Hình 1. Răng khôn lệch lưỡi so với răng 7 [2] Hình 1. Răng khôn đảo ngược so với răng 7 [2] 1. Phân loại theo quan điểm phẫu thuật của Parant Có 2 cách đánh giá độ khó của răng khôn hàm dưới: trước phẫu thuật và sau phẫu thuật.
Kharma và Pederson đánh giá độ khó của răng khôn hàm dưới trước phẫu thuật còn Parant đánh giá độ khó răng khôn hàm dưới sau phẫu thuật [11]. Parant phân phẫu thuật răng khôn hàm dưới lệch ra làm 4 loại Loại I: Nhổ răng chỉ cần mở rộng một phần xương ổ răng, tạo điểm tựa cho bẩy bằng cách khoan một rãnh ở mặt ngoài gần răng khôn. Phương pháp này áp dụng 13 cho các trường hợp kích thước và hình dạng chân răng cho phép dùng lực xoay và kéo răng lên. Chỉ định cho các trường hợp A.
Răng khôn dưới lệch gần, kẹt răng số 7, hai chân tách rời nhưng thuôn và thuận chiều bẩy răng. Răng khôn dưới lệch gần, kẹt răng số 7, chân răng chụm và cong xuôi chiều bẩy. Răng khôn hàm dưới loại Parant I Loại II: Nhổ răng cần mở một phần xương ổ răng và cắt cổ răng. Kỹ thuật: Dùng mũi khoan Tungsten để cắt ngang qua cổ răng khôn, sau đó dùng bẩy để lấy một phần thân răng và chân răng khôn.
Nó được áp dụng cho một số trường hợp sau.