Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong giai đoạn 2014–2018, ngành chăn nuôi Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn thực phẩm, nâng cao thu nhập và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn. Tuy nhiên, sản xuất chăn nuôi thời kỳ này phần lớn vẫn mang tính tự phát, quy mô nhỏ lẻ, thiếu thông tin thị trường và chuỗi liên kết tiêu thụ chưa đồng bộ, dẫn đến hiệu quả kinh tế chưa cao. Trước thực tế đó, mô hình hợp tác xã (HTX) chăn nuôi kiểu mới ra đời như một phương thức tổ chức liên kết nhằm khai thác lợi thế kinh tế theo quy mô, kiểm soát dịch bệnh và chuẩn hóa đầu ra.
Tại xã Tức Tranh (huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên), mô hình chăn nuôi ngựa bạch và hươu sao được xác định là hướng đi có giá trị gia tăng cao, hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu cây trồng - vật nuôi và tận dụng hiệu quả các phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, thân ngô, cám. Mặc dù tiềm năng kinh tế lớn, hoạt động tiêu thụ sản phẩm từ ngựa bạch (ngựa giống, thịt ngựa, cao ngựa bạch) và hươu sao (con giống, nhung hươu, thịt thương phẩm) gặp nhiều trở ngại: mạng lưới phân phối chưa hợp lý, thiếu hụt cơ sở vật chất bảo quản, quy mô thành viên còn nhỏ, giá cả phụ thuộc nhiều vào thương lái và rủi ro thị trường cao.
Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Tìm hiểu kênh tiêu thụ sản phẩm của HTX chăn nuôi động vật bản địa xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên" do sinh viên Nông Trà My thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của HTX chăn nuôi động vật bản địa tại xóm Gốc Gạo, xã Tức Tranh.
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản và khung pháp lý về kênh tiêu thụ sản phẩm của mô hình HTX nông nghiệp.
- Đánh giá thực trạng cấu trúc, vận hành và phân bổ luồng hàng hóa qua các kênh tiêu thụ sản phẩm của HTX.
- Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phân phối, tiêu thụ sản phẩm cho HTX và các hộ thành viên.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng kênh tiêu thụ và hoạt động sản xuất kinh doanh các sản phẩm từ ngựa bạch và hươu sao của HTX.
- Không gian nghiên cứu: Hợp tác xã chăn nuôi động vật bản địa, xóm Gốc Gạo, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Thời gian nghiên cứu: Đợt thực tập tốt nghiệp diễn ra từ ngày 15/01/2018 đến ngày 30/05/2018; số liệu khảo sát, hạch toán kỹ thuật và tài chính tập trung vào giai đoạn thành lập (2015) đến năm 2017.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và văn bản pháp lý
Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận về lưu thông hàng hóa nông sản và quản trị kênh phân phối:
- Khái niệm kênh tiêu thụ: Tập hợp các mối quan hệ giữa doanh nghiệp/HTX với các tổ chức, cá nhân bên ngoài để điều chuyển quyền sở hữu và luân chuyển vật chất của sản phẩm từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng.
- Mô hình Cấu trúc – Điều hành – Thực hiện thị trường (SCP) của Bain: Phân tích cấu trúc thị trường (S - thành viên trung gian, loại kênh, rào cản), hành vi điều hành (C - giá cả, xúc tiến, giao dịch, vận chuyển) và kết quả thực hiện (P - chất lượng, độ bao phủ, chi phí tiêu thụ).
- Phân loại kênh tiêu thụ: Phân cấp theo tính chất tiếp xúc (kênh trực tiếp cấp 0, kênh gián tiếp), theo cự ly vận chuyển (cực ngắn, ngắn, dài), theo cường độ (kênh mạnh, kênh không mạnh) và theo tính chất cạnh tranh.
- Bản chất HTX nông nghiệp: Tiếp cận theo Luật Hợp tác xã năm 2012, xác định HTX là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập để hỗ trợ sản xuất kinh doanh và tạo việc làm.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng làm căn cứ pháp lý:
- Luật Hợp tác xã năm 2012.
- Nghị định số 193/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật HTX 2012.
- Thông tư số 03/2014/TT-BKHĐT hướng dẫn đăng ký HTX và chế độ báo cáo.
- Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP về chủ trương, chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ nông sản.
- Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg và Chỉ thị số 25/2008/CT-TTg về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa qua hợp đồng.
- Nghị định số 23/2007/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại.
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trong phát triển nông thôn:
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Kế thừa báo cáo kinh tế - xã hội của UBND xã Tức Tranh, số liệu lưu trữ nội bộ của HTX chăn nuôi động vật bản địa, tài liệu ngành khuyến nông và các nghiên cứu thực tiễn đã công bố.
- Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp:
- Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA): Thảo luận nhóm, lôi cuốn các thành viên HTX cùng phân tích chuỗi cung ứng tại địa phương.
- Phỏng vấn sâu trực tiếp: Phỏng vấn Chủ tịch HĐQT Trần Đình Quang, Ban Giám đốc và toàn bộ các hộ thành viên chăn nuôi trong HTX.
- Quan sát hành vi và quan sát trực tiếp: Theo dõi trực tiếp các giao dịch mua bán giữa người sản xuất, thương lái và người tiêu dùng; ghi nhận quy trình chăm sóc, thu hoạch nhung hươu, chế biến cao ngựa.
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Tổng hợp, phân loại, so sánh cơ cấu đàn vật nuôi, chi phí đầu tư và thị phần tiêu thụ qua các kênh.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến chuyên môn của cán bộ khuyến nông, ban quản lý cơ sở và giảng viên hướng dẫn.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ tiềm năng của hai giống vật nuôi bản địa quý (ngựa bạch và hươu sao) kết hợp với yêu cầu giải quyết điểm nghẽn tiêu thụ nông sản tại huyện Phú Lương. Đặt ra 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, quy định rõ nội dung thực tập, thời gian (15/01/2018 - 30/05/2018), địa bàn thực hiện và xây dựng các yêu cầu về chuyên môn, thái độ công tác tại cơ sở thực tập.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
- Lý luận về thị trường và kênh tiêu thụ nông sản: Làm rõ chức năng phân phối, vai trò điều tiết cung cầu, giảm chi phí lưu thông và tiêu chí phân loại kênh (kênh trực tiếp, kênh ngắn, kênh dài).
- Ý nghĩa kinh tế của vật nuôi: Hươu sao cho thu hoạch 15–20 cặp nhung/đời (năng suất 0,3–1,5 kg/cặp, giá bán 14–20 triệu đồng/kg); hươu giống đực đạt 8–10 triệu đồng/con, hươu giống cái 5 triệu đồng/con. Ngựa bạch 6 tháng tuổi bán 22–25 triệu đồng/con; ngựa 24 tháng đạt 35–40 triệu đồng/con; ngựa cái sinh sản 50–70 triệu đồng/con; ngựa nấu cao (tối thiểu 36 tháng tuổi) trị giá 50 triệu đồng/con; cao ngựa bạch thành phẩm đạt giá 1–1,2 triệu đồng/lạng.
- Thực tiễn tiêu thụ tại địa phương khác: Khảo cứu chuỗi liên kết chăn nuôi tại Hà Nội (năm 2013 tiêu thụ 272.000 tấn thịt, xây dựng 18 chuỗi liên kết an toàn) và bài học vượt qua khủng hoảng rớt giá tại Nam Định (năm 2012 giá lợn hơi giảm xuống 32.000–40.000 đ/kg trong khi giá thành 45.000–47.000 đ/kg; mô hình liên kết của HTX Yên Lợi với Công ty Li-Bô-Ô cung cấp 5 tạ thịt sạch/ngày).
- Bài học kinh nghiệm: Đúc kết 7 nội dung then chốt cho HTX xã Tức Tranh gồm: liên kết 4 nhà; HTX đứng ra bao tiêu; tạo lập nhãn hiệu/thương hiệu; quy hoạch tránh sản xuất ồ ạt; ứng dụng khoa học kỹ thuật; chuẩn hóa khâu sơ chế/giết mổ; đóng gói và ký kết hợp đồng tiêu thụ chuyên nghiệp.
Phần 3: Kết quả thực tập
- Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của HTX: Đóng tại xóm Gốc Gạo, xã Tức Tranh trên diện tích tự nhiên 5,8 ha (tổng diện tích đất sản xuất 10 ha: 5,5 ha trồng cỏ VA06 thâm canh, 1 ha bãi chăn thả, 0,5 ha chuồng trại, 3 ha cây ăn quả). Tiếp giáp xã Phú Đô, Yên Lạc, Vô Tranh; có sông Cầu chảy qua cung cấp nguồn nước cùng trạm bơm điện phục vụ tưới tiêu. Hạ tầng chuồng ngựa gồm 6 dãy với 80 ngăn chuồng kiên cố (10 ngăn đẻ, 10 ngăn tách sữa, 2 ngăn đực giống, hệ thống biogas xử lý chất thải và máng uống tự động).
- Cơ cấu tổ chức: Thành lập tháng 9/2015 từ trang trại của ông Trần Đình Quang (Chủ tịch HĐQT, trình độ ThS), Giám đốc là bà Nguyễn Thị Kim Lan, Kiểm soát viên là ông Nguyễn Như Quỳnh.
- Nghiệp vụ thực tập thực tế: Tham gia trực tiếp vào 5 quy trình kỹ thuật: vệ sinh chuồng trại (7h00–8h30); cắt cỏ VA06 (8h30–10h00 và 15h00–16h30); định lượng thức ăn cho ngựa (15–20 kg cỏ/con/ngày) và hươu (3–6 kg cỏ/con/ngày); hỗ trợ tiêm phòng dịch bệnh; thực hành cắt nhung hươu (thời điểm 50–55 ngày sau mọc) và áp dụng 3 bài thuốc cầm máu dân gian (mực tàu + than củi; than lá chuối khô + dầu lạc; giã nát lá cây hoàng xà/ba lóng).
- Phân tích thực trạng các kênh tiêu thụ: Vẽ sơ đồ và tính toán tỷ lệ luồng hàng qua 4 kênh chính từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng.
Kết quả và đóng góp
Số liệu thực trạng sản xuất và quy mô thành viên
HTX khởi đầu năm 2015 với 8 thành viên, vốn góp 100 triệu đồng, quy mô 30 con ngựa, 100 con hươu và 0,5 ha bưởi. Đến năm 2017, HTX kết nạp thêm 2 thành viên, nâng tổng số lên 10 hộ với quy mô đàn gia tăng rõ rệt:
| STT |
Họ và tên thành viên |
Số lượng ngựa (con) |
Số lượng hươu (con) |
Diện tích cây ăn quả (ha) |
| 1 |
Trần Đình Quang |
60 |
150 |
1,5 |
| 2 |
Nguyễn Thị Kim Lan |
10 |
30 |
0,7 |
| 3 |
Huỳnh Văn Thụ |
5 |
25 |
- |
| 4 |
Nguyễn Văn Dũng |
5 |
23 |
- |
| 5 |
Nguyễn Như Quỳnh |
- |
20 |
- |
| 6 |
Phạm Văn Triệu |
5 |
15 |
0,3 |
| 7 |
Phạm Văn Dinh |
- |
15 |
- |
| 8 |
Đồng Văn Huỳnh |
- |
12 |
0,5 |
| 9 |
Hoàng Văn Thời |
- |
10 |
- |
| 10 |
Nguyễn Minh Tân |
10 |
- |
- |
| Tổng |
10 thành viên |
95 |
300 |
3,0 |
Ghi chú: Ngoài ra HTX còn nuôi thêm 400 con lợn rừng và 40 con dê.
Chi phí con giống ban đầu (Năm 2015)
| STT |
Loại chi phí con giống |
Đơn vị tính |
Số lượng |
Đơn giá (1.000 đ) |
Thành tiền (1.000 đ) |
| 1 |
Giống hươu cái |
Con |
90 |
4.000 |
360.000 |
| 2 |
Giống hươu đực |
Con |
10 |
15.000 |
150.000 |
| 3 |
Giống ngựa cái |
Con |
28 |
23.000 |
644.000 |
| 4 |
Giống ngựa đực |
Con |
2 |
35.000 |
70.000 |
| Tổng |
|
|
130 |
|
1.224.000 |
Cấu trúc và tỷ trọng các kênh tiêu thụ sản phẩm
Theo kết quả khảo sát thực tế năm 2017, luồng hàng hóa của HTX phân phối qua 4 dạng kênh chính:
- Kênh 1 (Kênh trực tiếp / Cấp 0): Người sản xuất $\rightarrow$ Người tiêu dùng. Chiếm 47,0% tổng lượng sản phẩm tiêu thụ. Đây là kênh chủ lực cho các mặt hàng giá trị cao như nhung hươu, cao ngựa bạch và con giống; giúp người chăn nuôi giữ nguyên biên lợi nhuận, không bị ép giá và tạo niềm tin trực tiếp qua việc khách hàng đến tận cơ sở chứng kiến quy trình nấu cao/cắt nhung.
- Kênh 2 (Kênh cấp 1): Người sản xuất $\rightarrow$ Người bán lẻ $\rightarrow$ Người tiêu dùng. Chiếm 20,6% sản lượng.
- Kênh 3 & Kênh 4 (Kênh cấp 2 và cấp 3): Người sản xuất $\rightarrow$ Người bán buôn $\rightarrow$ [Bán lẻ / Lò mổ] $\rightarrow$ Người tiêu dùng. Luồng xuất bán cho người bán buôn chiếm 32,4% tổng sản lượng xuất chuồng. Trong đó, từ người bán buôn:
- 87,3% được chuyển tiếp đến các cơ sở bán lẻ.
- 12,7% được chuyển đến các lò giết mổ (điển hình như cơ sở giết mổ Minh Tân và các nhà hàng).
Sơ đồ phân bổ dòng sản phẩm HTX năm 2017:
Đề xuất giải pháp của tác giả
- Về tổ chức kênh: Giảm bớt các khâu trung gian thương lái không cần thiết nhằm rút ngắn thời gian lưu thông và hạn chế việc đội giá thành phẩm khi tới tay người tiêu dùng.
- Về xúc tiến thương mại: Xây dựng nhận diện thương hiệu, in tem nhãn bao bì sản phẩm của HTX, đẩy mạnh tiếp thị qua các kênh truyền thông xã hội (Facebook, Zalo, Instagram).
- Về liên kết chuỗi: Tăng cường vai trò của Ban quản lý HTX trong việc thống nhất kế hoạch chăn nuôi, khắc phục tình trạng sản xuất phân tán "mạnh ai nấy làm", liên kết chặt chẽ theo mô hình "Bốn nhà" (Nhà nông – Doanh nghiệp – Nhà nước – Nhà khoa học) và ký hợp đồng bao tiêu dài hạn với các cơ sở giết mổ, chế biến đạt chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Khóa luận giới hạn phạm vi khảo sát tại một hợp tác xã đơn lẻ trên địa bàn xóm Gốc Gạo, xã Tức Tranh trong thời gian thực tập 5 tháng (tháng 1 đến tháng 5/2018).
- Do tính chất đề tài định hướng ứng dụng mới đối với vật nuôi bản địa bán hoang dã, dữ liệu thứ cấp chuyên sâu về phân tích chi phí lưu thông và tỷ suất lợi nhuận biên của từng tác nhân trung gian (người bán buôn, lò mổ, người bán lẻ) chưa được bóc tách chi tiết.
- Tác giả tự nhìn nhận một số hạn chế về trang thiết bị khảo sát thực địa và kỹ năng xử lý diễn đạt văn bản học thuật trong quá trình tổng hợp báo cáo.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi đánh giá chuỗi giá trị liên tỉnh đối với các sản phẩm chế biến sâu từ ngựa bạch (cao ngựa, thịt sấy) và hươu sao (rượu nhung, cao hươu) tại thị trường vùng trung du miền núi phía Bắc và Hà Nội.
- Phân tích chi tiết bài toán hạch toán kinh tế và xác định hàm lượng giá trị gia tăng ở từng mắt xích trong chuỗi liên kết tiêu thụ theo hợp đồng.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản trị hợp tác xã; cán bộ khuyến nông cơ sở và các chủ trang trại, HTX đang phát triển mô hình chăn nuôi đặc sản.
- Nội dung có giá trị:
- Tài liệu cung cấp bức tranh số liệu thực tế về chi phí đầu tư ban đầu, cơ cấu đàn và mô hình tổ chức của HTX chăn nuôi ngựa bạch kết hợp hươu sao.
- Các bước mô tả kỹ thuật chăm sóc thực địa (định mức khẩu phần cỏ VA06, kỹ thuật thu hoạch và các bài thuốc cầm máu khi cắt nhung hươu).
- Số liệu sơ đồ hóa dòng phân phối 4 cấp giúp người làm nghiên cứu có case study thực chứng về đặc thù tiêu thụ nông sản giá trị cao tại khu vực miền núi.
Câu hỏi thường gặp
1. HTX Chăn nuôi động vật bản địa xã Tức Tranh có quy mô đàn và diện tích sản xuất thay đổi như thế nào từ năm 2015 đến năm 2017?
Khi thành lập vào tháng 9/2015, HTX có 8 thành viên, vốn góp 100 triệu đồng, chăn nuôi 30 con ngựa, 100 con hươu và 0,5 ha bưởi. Đến năm 2017, HTX tăng lên 10 thành viên, quy mô đàn đạt 95 con ngựa bạch, 300 con hươu sao, nuôi thêm 400 lợn rừng, 40 dê; diện tích sử dụng đất tăng lên 10 ha (gồm 5,5 ha cỏ VA06, 1 ha chăn thả, 0,5 ha chuồng trại và 3 ha bưởi).
2. Kênh tiêu thụ nào chiếm tỷ trọng lớn nhất tại HTX và vì sao?
Kênh trực tiếp cấp 0 (Người sản xuất $\rightarrow$ Người tiêu dùng) chiếm tỷ trọng lớn nhất (47,0%). Kênh này được ưu tiên lựa chọn do các sản phẩm chủ lực (cao ngựa bạch, nhung hươu, con giống) có giá trị cao, đòi hỏi hướng dẫn bảo quản chi tiết; bán trực tiếp giúp người chăn nuôi giữ nguyên lợi nhuận, không bị thương lái ép giá và tạo được niềm tin nhờ khách hàng có thể kiểm tra trực tiếp quy trình chế biến tại chỗ.
3. Tổng chi phí con giống ban đầu của HTX năm 2015 được ghi nhận cụ thể là bao nhiêu?
Tổng chi phí con giống ban đầu là 1.224.000.000 đồng (1,224 tỷ đồng), bao gồm: 90 hươu cái giống (360 triệu đồng), 10 hươu đực giống (150 triệu đồng), 28 ngựa cái giống (644 triệu đồng) và 2 ngựa đực giống (70 triệu đồng).
4. Kỹ thuật cắt và cầm máu nhung hươu được tác giả ghi nhận gồm những phương pháp nào?
Nhung hươu được cắt sau khi mọc từ 50–55 ngày, dùng cưa chuyên dụng cách chân đế 1 cm. Ba bài thuốc cầm máu dân gian được sử dụng gồm: (1) Mực tàu trộn than củi tán bột pha nước ấm sền sệt; (2) Than lá chuối khô sạch trộn dầu lạc dạng đặc; (3) Giã nhỏ lá cây hoàng xà (cây ba lóng) đắp trực tiếp lên vết cắt rồi băng gạc giữ chặt từ 3–5 phút.
5. Cơ cấu quản lý bộ máy của HTX gồm những nhân sự chủ chốt nào?
Bộ máy quản lý HTX gồm: Chủ tịch Hội đồng quản trị là ThS. Trần Đình Quang (sáng lập viên), Giám đốc điều hành là bà Nguyễn Thị Kim Lan, Kiểm soát viên là ông Nguyễn Như Quỳnh, quản lý trực tiếp hoạt động sản xuất của các hộ xã viên kết hợp lao động gia đình và lao động thuê ngoài.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nông Trà My đã phản ánh toàn diện thực trạng tổ chức sản xuất và cấu trúc kênh tiêu thụ sản phẩm của HTX Chăn nuôi động vật bản địa xã Tức Tranh giai đoạn 2015–2017. Bằng việc kết hợp các phương pháp khảo sát thực địa có sự tham gia và số liệu hạch toán cụ thể, đề tài đã chỉ rõ ưu thế của kênh bán hàng trực tiếp (chiếm 47%) cùng những hạn chế từ khâu trung gian thương lái trong phân phối thịt và dược liệu chăn nuôi. Các bài học kinh nghiệm và hệ thống giải pháp liên kết "Bốn nhà" được đề xuất trong công trình mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao đối với sự phát triển bền vững của kinh tế hợp tác xã nông nghiệp miền núi.