Chương 1: Kế toán dự phòng rủi ro tín dụng theo IAS/IFRS. Chương 2: Kế toán dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam và những khác biệt với IAS/IFRS. Chương 3: Đánh giá khả năng áp dụng quy định của IAS/IFRS trong kế toán dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam. Chương 4: Một số giải pháp và kiến nghị.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Hương cùng các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn, các cán bộ nhân viên một số đơn vị đã tham gia trả lời phỏng vấn, tạo điều kiện cho em hoàn thành khoá luận. Dù cố gắng nhưng do hiểu biết còn hạn chế, khoá luận của em không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để khoá luận của em hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! SV: Hoàng Thị Thu Hà 3 Lớp: KTDNG – K14 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Nguyễn Thị Thanh Hương CHƢƠNG I: KẾ TOÁN DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG THEO IAS/IFRS 1.1 Khái quát về dự phòng rủi ro tín dụng và kế toán dự phòng rủi ro tín dụng theo IAS/IFRS 1.1 Rủi ro tín dụng và dự phòng rủi ro tín dụng trong các NHTM Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng, tín dụng được hiểu như sau: “Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền và hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) với bên đi vay (cá nhân, tổ chức), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoạn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đế hạn thanh toán.” Trong nền kinh tế thị trường, cấp tín dụng đã trở thành một trong những chức năng cơ bản của ngân hàng. Đối với hầu hết các ngân hàng tại Việt Nam thì hoạt động tín dụng chiếm hơn 1/2 tổng tài sản có, và thu nhập từ tín dụng chiếm hơn 1/2 đến 2/3 tổng thu nhập của ngân hàng. Đi kèm với đó thì rủi ro trong kinh doanh ngân hàng lại chủ yếu bắt nguồn từ danh mục tín dụng. Rủi ro tín dụng hiểu một cách chung nhất là rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay của ngân hàng, thể hiện khách hàng không trả dược nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng.
Nói một cách khách là người đi vay đã không thực hiện đúng cam kết vay vốn theo hợp đồng tín dụng, không tuân thủ theo đúng nguyên tắc hoàn trả khi đáo hạn. Do đó, rủi ro tín dụng còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả hay rủi ro sai hẹn. Tuy nhiên cần hiểu rủi ro tín dụng theo nghĩa xác suất, tức là khả năng có thể xảy ra hay không xảy ra tổn thất. Điều này được hiểu là một khoản vay dù chưa quá hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất.
Đó là lí do mà khi tiến hành soát xét hoạt động tín dụng của một ngân hàng, luôn cần kiểm tra toàn bộ danh mục tín dụng và hồ sơ đảm bảo tín dụng đối với các khoản tín dụng lớn, chọn mẫu kiểm tra ngẫu nhiên đối với các khoản cho vay vừa và nhỏ nhằm đánh giá mức độ rủi ro của chính sách tín dụng và đảm bảo tín lành mạnh trong hoạt động của ngân hàng. Nhận thức được vấn đề này giúp cho các ngân hàng chủ động trong phòng ngừa, hạn chế và có biện pháp đảm bảo bù đắp tổn thất khi rủi ro tín dụng thực sự xảy ra. SV: Hoàng Thị Thu Hà 4 Lớp: KTDNG – K14 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Thanh Hương Về mặt định lượng: rủi ro tín dụng được phản ánh bởi chính số tiền nợ quá hạn, nợ tồn đọng của mỗi ngân hàng.
Về mặt định tính: rủi ro tín dụng có quan hệ ngược chiều với chất lượng tín dụng. Nếu chất lượng tín dụng được đánh giá càng cao thì rủi ro tín dụng càng thấp và ngược lại. Phân loại rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng có thể phân chia thành 2 loại sau căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro: - Rủi ro giao dịch: là rủi ro có nguyên nhân là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch được phân chia thành 3 loại chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ.
Cụ thể: + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng để lựa chọn phương án vay vốn có hiệu quả cho việc ra quyết định tài trợ của ngân hàng. + Rủi ro đảm bảo: là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, cách thức bảo đảm và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lí khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng và kỹ thuật xử lí các khoản vay có vấn đề. - Rủi ro danh mục: Là hình thức rủi ro xuất phát từ những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được cấu thành từ 2 bộ phận: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
+ Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng có, mang tính đặc thù bên trong mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành nghề, lĩnh vực kinh tế. Nó phát sinh từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng. + Rủi ro tập trung: là rủi ro tiềm ẩn trong trường hợp ngân hàng tập trung quá nhiều vốn vay cho một đối tượng khách hàng (một số khách hàng lớn/ các doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc trog cùng một vùng địa lí nhất định,…) hoặc cho cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. SV: Hoàng Thị Thu Hà 5 Lớp: KTDNG – K14 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Nguyễn Thị Thanh Hương Đặc điểm của rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng có tính tất yếu: Rủi ro tín dụng luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng. Chấp nhận rủi ro là tất yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Vì thế, các ngân hàng cần đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro - lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được lợi ích xứng đáng với mức rủi ro chấp nhận được. Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh chịu là hợp lí, có thể kiểm soát được và nằm trong phạm vi khả năng các nguồn lực tài chính và năng lực tín dụng của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Rủi ro tín dụng xảy ra sau khi ngân hàng giải ngân vốn vay và trong quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng. Tình trạng thông tin bất cân xứng thông thường sẽ đặt ngân hàng vào thế bị động. Việc bên cho vay nhận được thông tin không kịp thời hoặc không chính xác về tình hình khó khăn của bên đi vay dẫn đến những ứng phó đưa ra là chậm trễ. Rủi ro tín dụng rất đa dạng, phức tạp: Đặc điểm này thể hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng cũng như diễn biến sự việc, hậu quả khi rủi ro xảy ra.
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Nhận diện được những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng giúp ngân hàng chủ động hơn trong công tác phòng ngừa rủi ro: Nguyên nhân khách quan - Nguyên nhân bất khả kháng: Hoạt động kinh doanh đôi khi gặp phải những tai họa hay rủi ro từ thiên tai, dịch bệnh,… không thể tránh khỏi có thể tác động đến lợi nhuận của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả các nghĩa vụ đối với ngân hàng. Bên cạnh đó, quá trình tự do hóa và hội nhập kinh tế quốc tế cũng đem đến những rủi ro tất yếu. Môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt khiến nhiều khách hàng của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường. Bản thân sự cạnh tranh giữa các ngân hàng cũng khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ thống quản lí yếu kém gặp phải nguy cơ nợ xấu SV: Hoàng Thị Thu Hà 6 Lớp: KTDNG – K14 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Nguyễn Thị Thanh Hương tăng cao bởi hầu hết khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút. - Chính sách vĩ mô của Nhà nước: Một mặt, quy định của Nhà nước ảnh hưởng trực tiếp đến các ngân hàng. Kinh doanh tiền tệ là ngành kinh doanh đặc biệt có ảnh hưởng sâu rộng đến sự ổn định và phát triển của nền kinh tế. Do đó, hoạt động ngân hàng cũng chịu sự điều tiết chặt chẽ về mặt pháp lí của Nhà nước mà hoạt động tín dụng là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp.
Chính sách còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ khiến cho các ngân hàng lúng túng trong áp dụng hoặc lợi dụng kẽ hở để làm đẹp tình hình tài chính của mình dẫn đến không nhận biết kịp thời những rủi ro tiềm ẩn trong danh mục tín dụng để có biện pháp xử lí. Mặt khác, chính sách điều hành vĩ mô của Nhà nước cũng tác động đến môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp. Kế hoạch thúc đẩy hay hạn chế tăng trưởng các ngành/ vùng kinh tế khác nhau sẽ dẫn đến sự gia tăng hay sụt giảm vốn đầu tư vào khu vực đó gây ra khủng hoảng cho doanh nghiệp. Sức mạnh tài chính của người đi vay suy giảm gián tiếp gây ra thiệt hại đối với người cho vay.
- Thông tin bất đối xứng: Thông tin không cân xứng trên thị trường tài chính dẫn đến lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức đặt các ngân hàng trước nguy cơ rủi ro cao. Nguyên nhân chủ quan - Nguyên nhân từ phía khách hàng: Nguyên nhân từ phía người đi vay là một trong những nguyên nhân chính gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Thông thường loại rủi ro này bao gồm: + Rủi ro trong kinh doanh của khách hàng: Loại rủi ro này thể hiện ở mức độ biến động ít hay nhiều theo chiều hướng xấu của kết quả kinh doanh.