Chương 1: Những vấn đề lý luận về hiệu quả hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Quân đội Việt Nam giai đoạn 2021 – 2023. Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn của Ngân hàng TMCP Quân đội Việt Nam giai đoạn 2024 – 2029. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Tổng quan về Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại Trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, NHTM là định chế tài chính trung gian giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Đây là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất bởi lẽ các cá nhân, các tổ chức hay doanh nghiệp đều gửi tiền tại đây và nguồn vốn của họ phần lớn xuất phát từ đây cho thấy ngân hàng đóng vai trò là người thủ quỹ cho toàn xã hội. Tiền từ ngân hàng được đưa vào những nơi đang thiếu vốn, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo công ăn việc làm và tăng trưởng kinh tế cho đất nước.
Có rất nhiều khái niệm về Ngân hàng thương mại được đưa ra theo nhiều cách tiếp cận khác nhau: Theo Peter S. Rose trong cuốn Quản trị Ngân hàng thương mại định nghĩa: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Mishkin trong cuốn The economics of money, banking and finance markets đã định nghĩa: “Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính nhận tiền gửi và tạo ra các khoản vay. Thuật ngữ ngân hàng bao gồm các hãng như NHTM, hiệp hội tiết kiệm và cho vay, ngân hàng tiết kiệm tương hỗ và các tổ chức tín dụng.34] Theo Luật Ngân hàng Đan Mạch năm 1930 cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng là những nhà băng thiết yếu, gồm các nghiệp vụ nhận tiền gửi ký thác, buôn bán vàng bạc hành nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm.14] Theo Luật Ngân hàng thương mại của Trung Quốc năm 1995 và sửa đổi năm 2003 định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là loại hình pháp nhân được thực hiện một vài hoặc tất cả các hoạt động nhận tiền gửi từ công chúng, cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn xử lý các khoản thanh toán nội địa và quốc tế, thực hiện chiết khấu, phát hành trái phiếu tài chính, cho vay liên ngân hàng, phát hành thẻ ngân hàng và các dịch vụ tín dụng và các nghiệp vụ kinh doanh khác.13-14] Ở Việt Nam, căn cứ Điều 1 trong Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính năm 1990 có đưa ra khái niệm: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ, mà hoạt động thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.” 1 Tại Việt Nam, theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng của Việt Nam Số 47/2010/QH12 được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 16/06/2010 : “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
Theo khoản 23 điều 4 Luật Tổ chức tín dụng của Việt Nam năm 2024: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính hoạt động với mục tiêu tạo lợi nhuận từ các giao dịch tiền tệ. Các ngân hàng thương mại chủ yếu dựa vào tiền gửi thường xuyên từ khách hàng để cung cấp các dịch vụ tài chính như cấp tín dụng, chiết khấu và thanh toán. Với tư cách là doanh nghiệp thương mại, các ngân hàng thương mại tiến hành các hoạt động kinh doanh dựa trên nguyên tắc kinh tế và hướng đến mục tiêu tạo lợi nhuận.” Cụ thể hơn, theo Nguyễn Minh Kiều trong cuốn Nghiệp vụ ngân hàng thương mại: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.11] Như vậy, mỗi khái niệm khác nhau nhưng đều khẳng định rằng Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán cho nền kinh tế. Ngoài ra, Ngân hàng thương mại còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.
Chức năng của Ngân hàng thương mại 1. Chức năng trung gian tín dụng Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư. Khi các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập, chính vì thế họ cần bổ sung thêm vốn. Bên cạnh đó lại tồn tại các cá nhân và tổ chức tạm thời thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn chi tiêu và họ có tiền tiết kiệm.
Hai nhóm này tồn tại hoàn toàn độc lập với ngân hàng và điều tất yếu sẽ xảy ra đó là nguồn vốn hợp lí sẽ được chảy từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn. Do đó, với chức năng trung gian tín dụng, NHTM sẽ trở thành cầu nối trong mối quan hệ tài chính giữa hai nhóm trên. Thực hiện chức năng này, một mặt NHTM huy động và tập trung vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế như vốn tạm thời nhàn rỗi trong các tổ chức kinh tế, cơ quan đoàn thể, tiền tiết kiệm dân cư để hình thành nguồn vốn cho vay. Mặt khác trên cơ sở nguồn vốn đã huy động được, ngân hàng sử dụng cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, kích thích quá trình luân chuyển vốn của toàn xã hội và thúc đẩy quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp.
Với chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã góp phần 2 tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia bao gồm người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay đồng thời thúc đẩy sự phát triển của nền kinh trế. Chức năng trung gian thanh toán Đây là chức năng phân biệt ngân hàng với các tổ chức phi ngân hàng khác. Ngân hàng làm trung gian thanh toán khi thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác. NHTM đóng vai trò như người thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tài khoản của họ.
NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở thực hiện chức năng trung gian tín dụng. Bởi vì thông qua việc nhận tiền gửi, ngân hàng đã mở cho khách hàng tài khoản tiền gửi để theo dõi các khoản thu, chi. Đó chính là tiền đề để khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng, đặt ngân hàng vào vị trí trung gian thanh toán. Việc các NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế.
Với chức năng này, các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán thuận lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng. Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó, các chủ thể sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian nhưng vẫn đảm bảo được thanh toán an toàn. Như vậy, chức năng này thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn từ đó góp phần phát triển kinh tế.
Đối với NHTM, chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu phí thanh toán đồng thời làm tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng. Chức năng này cũng chính là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền của NHTM.3 Chức năng tạo tiền Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh tế có khả năng huy động tiền gửi lớn nhất, tại đây tất cả các nguồn gửi ngắn, trung và dài hạn đều được tập hợp. Sở dĩ có thể khẳng định rằng NHTM tạo tiền cho nền kinh tế bởi vì khi khách hàng đem tiền đến gửi tại ngân hàng, sau khi để lại một tỉ lệ dự trữ theo quy định thì số tiền còn lại được đem cho vay. Và cứ thế nguồn vốn được quay vòng một cách đều đặn và liên tục đem lại thu nhập cho ngân hàng.
Chức năng tạo tiền là hệ quả của hai chức năng trên trong hoạt động ngân hàng: Từ một số dự trư ban đầu thông qua quá trình cho vay và thanh toán bằng chuyển khoản của ngân hàng thì lượng tiền gửi mới được tạo ra và nó lớn hơn so với lượng dự trữ ban đầu gấp nhiều lần, gọi là quá trình tạo tiền của hệ thống ngân hàng. Một ngân hàng sau khi nhận một món tiền gửi, trên tài khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng sẽ có số dư. Với số tiền này, sau khi đã để lại một khoản dự trữ bắt 3 buộc, ngân hàng sẽ đem đi đầu tư, cho vay từ đó nó sẽ chuyển sang vốn tiền gửi của ngân hàng khác. Với vòng quay của vốn thông qua chức năng tín dụng và thanh toán, NHTM thực hiện được chức năng tạo tiền.
Các chức năng của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau. Đồng thời khi ngân hàng thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền sẽ góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng và mở rộng hoạt động tín dụng. Một số hoạt động cơ bản của NHTM Ngân hàng là một tổ chức cung cấp các dịch vụ cho công chúng và doanh nghiệp.