Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG KINH TẾ - XÃ HỘI 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Huy động “Huy động” lần đầu tiên được sử dụng trong một bối cảnh quân sự, để mô tả việc chuẩn bị của quân đội Nga trong những năm 1850 và năm 1860. Lý thuyết và kỹ thuật huy động đã liên tục thay đổi kể từ đó.
Có thể hiểu, huy động là quá trình hình thành đám đông, nhóm, assiciations, và tổ chức cho việc theo đuổi các mục tiêu tập thể. Phương thức huy động: Bằng tiền, hiện vật hoặc ngày công lao động. Nguyên tắc huy động: Huy động được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ bàn bạc, công khai minh bạch và quyết định theo đa số. Nguồn lực Theo quan điểm hệ thống, “Nguồn lực là tất cả những yếu tố và phương tiện mà hệ thống có quyền chi phối, điều khiển, sử dụng để thực hiện mục tiêu của mình”.
Người ta chia nguồn lực thành các loại khác nhau để có thái độ đúng đắn và có cách ứng xử với chúng thích hợp. Với cách nhận thức như thế và trên quan điểm thiết thực, việc phân chia các nguồn lực được tiến hành theo hai cách chủ yếu: Cách thứ nhất, chia ra thành nhóm nguồn lực vật chất và nguồn lực con người. Nhóm nguồn lực vật chất gồm có: tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên thuỷ điện, tài nguyên nước, tài nguyên khí hậu, vị trí địa kinh tế.) và cơ sở vật chất kỹ thuật đã tạo dựng (nhà cửa, công trình công cộng, đường sá, hải cảng, sân bay, hệ thống sản xuất 5 và truyền tải điện, hệ thống cung cấp và thoát nước, hệ thống xử lý chất thải, hệ thống viễn thông và truyền thông. Nhóm nguồn lực con người (gắn với tài nguyên trí thức) và tài nguyên thông tin.
Trong lĩnh vực xây dựng nguồn lực con người, không thể xem nhẹ việc bồi dưỡng sức dân và thực hiện nhân đạo hiện đại đối với vấn đề sinh sản. Để có được nguồn thông tin chất lượng cao nhằm cung cấp kịp thời, đầy đủ cho người dân, Nhà nước phải tiến hành xây dựng hệ thống thông tin thống nhất từ trung ương tới các địa phương. Có như thế mới khắc phục được tình trạng thiếu thông tin trầm trọng như hiện nay ở nước ta. Cách thứ hai, căn cứ vào nguồn gốc của các nguồn lực để phân loại.
Người ta chia chúng ra thành hai nhóm lớn: nguồn lực trong nước và nguồn lực ngoài nước. Nguồn lực trong nước bao giờ cũng giữ vai trò quyết định. Bằng cơ chế, chính sách, Nhà nước tạo ra môi trường hấp dẫn để thu hút các nguồn lực bên ngoài, nhất là thu hút nhân tài. Thông qua cơ chế, chính sách, nhà nước và các doanh nghiệp có thể biến ngoại lực thành nội lực.
Huy động nguồn lực Huy động nguồn lực là một chính lý thuyết xã hội học trong việc nghiên cứu các phong trào xã hội mà nổi lên trong những năm 1970. Nó nhấn mạnh đến khả năng của các thành viên của phong trào để có được nguồn tài nguyên và huy động người dân đối với việc hoàn thành các mục tiêu của phong trào. Huy động nguồn lực là hướng dẫn huy động các nguồn lực, chủ yếu là nội lực, để tăng cường năng lực tổ chức và mang lại lợi ích cho cộng đồng. Mục đích của huy động nguồn lực là làm thế nào để một tổ chức có thể gây quỹ cần thiết để thực hiện sứ mệnh của mình? Các nguồn lực cần có đang ở đâu? Làm thế nào để bạn có thể duy trì tổ chức và công việc của mình? Đó là những câu hỏi chính mà các tổ chức phải đối mặt khi họ phải xem xét làm thế nào để duy trì công việc của họ và tăng cường tính bền vững của tổ chức.
6 Việc xây dựng một kế hoạch hoặc một chiến lược huy động nguồn lực có thể dẫn đến các nỗ lực sáng tạo trong việc sử dụng các tài sản của chính bạn để đạt được sự ủng hộ cho tổ chức của bạn. Các nguồn tài trợ khác nhau có thể làm tăng tính độc lập và linh hoạt để thực hiện các chương trình và giảm thiểu sự phụ thuộc vào các nguồn quỹ bên ngoài (và của nước ngoài). Kết cấu hạ tầng Cho đến nay, quan niệm về kết cấu hạ tầng vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau. TS Nguyễn Ngọc Nông thì kết cấu hạ tầng “là tổng thể các ngành kinh tế, các ngành công nghệ dịch vụ” ( Nguyễn Ngọc Nông, Lương Văn Hinh, Đăng Văn Minh, Nguyễn Thị Bích Hiệp, 2003, tr.
Cụ thể kết cấu hạ tầng bao gồm: Việc xây dựng đường xá, kênh đào tưới nước, bãi cảng, cầu cống, sân bay, kho tàng, cơ sở cung cấp năng lượng, cơ sở kinh doanh, giao thông vận tải, bưu điện, cấp thoát nước, cơ sở giáo dục, khoa học, y tế, bảo vệ sức khoẻ. TS Lê Du Phong cho rằng kết cấu hạ tầng là “tổng hợp các yếu tố và điều kiện vật chất - kỹ thuật được tạo lập và tồn tại trong mỗi quốc gia, là nền tảng và điều kiện chung cho các hoạt động KT - XH.” (Lê Du Phong, 1996, tr. Với TS Mai Thanh Cúc quan niệm kết cấu hạ tầng là: “hệ thống các công trình làm nền tảng cung cấp những yếu tố cần thiết cho phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống” (Mai Thanh Cúc, Quyền Đình Hà, Nguyễn Thị Tuyết Lan, Nguyễn Trọng Đắc, 2005, tr. Kết cấu hạ tầng bao gồm cung cấp nước, tưới tiêu và phòng chống bão lụt, cung cấp năng lượng, giao thông, thông tin liên lạc.
TS Đỗ Hoài Nam thì cho rằng kết cấu hạ tầng “là khái niệm dùng để chỉ những phương tiện làm cơ sở nhờ đó các quá trình công nghệ, quá trình sản xuất và các dịch vụ được thực hiện” (Đỗ Hoài Nam, Lê Cao Đoàn, 2001, tr. Như vậy mặc dù còn có những quan điểm khác nhau, cụm từ khác nhau nhưng các quan điểm, ý kiến này đều cho rằng: Kết cấu hạ tầng hay cơ sở hạ tầng hay hạ tầng đều là những yếu tố 7 vật chất làm nền tảng cho các quá trình sản xuất và đời sống xã hội hình thành và phát triển. Toàn bộ kết cấu hạ tầng có thể được phân chia thành nhiều loại khác nhau dựa trên các tiêu chí khác nhau. Cụ thể như: - Nếu căn cứ theo lĩnh vực kinh tế - xã hội, thì kết cấu hạ tầng có thể được phân chia thành: kết cấu hạ tầng phục vụ kinh tế, kết cấu hạ tầng phục vụ hoạt động xã hội, và kết cấu hạ phục vụ an ninh - quốc phòng.
Tuy nhiên, trên thực tế, ít có loại kết cấu hạ tầng nào hoàn toàn chỉ phục vụ kinh tế mà không phục vụ hoạt động xã hội và ngược lại. - Nếu căn cứ theo sự phân ngành của nền kinh tế quốc dân, thì kết cấu hạ tầng có thể được phân chia thành: kết cấu hạ tầng trong công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, bưu chính- viễn thông, xây dựng, hoạt động tài chính, ngân hàng, y tế, giáo dục, văn hoá - xã hội… - Nếu căn cứ theo khu vực dân cư, vùng lãnh thổ, thì kết cấu hạ có thể được phân chia thành: kết cấu hạ tầng đô thị, kết cấu hạ tầng nông thôn; Kết cấu hạ tầng kinh tế biển (ở những nước có kinh tế biển), kết cấu hạ tầng đồng bằng, trung du, miền núi, vùng trọng điểm phát triển, các thành phố lớn… 1. Kết cấu hạ tầng KT - XH Theo PGS. TS Đỗ Hoài “Kết cấu hạ tầng KT - XH là khái niệm dùng để chỉ tổng thể những phương tiện và thiết chế, tổ chức làm nền tảng cho kinh tế - xã hội phát triển” (Đỗ Hoài Nam, Lê Cao Đoàn, 2001, tr.
Thực tế cho thấy, kết cấu hạ tầng KT - XH ngày càng đóng vị trí quan trọng trong sự phát triển KT - XH của các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Kết cấu hạ tầng KT - XH là một trong những chỉ tiêu tổng hợp đánh giá mức độ phát triển của một quốc gia. Bất cứ một xã hội nào, một quốc gia nào muốn phát triển thì đều cần có một hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh và đồng bộ, điều đó cũng có nghĩa là phải đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, phải xem nó là nền tảng, là điều kiện tiền đề vật chất để thúc đẩy các hoạt động KT - XH phát triển. 8 Kết cấu hạ tầng KT - XH có những đặc trưng sau: - Tính hệ thống: Kết cấu hạ tầng KT - XH của một quốc gia, một vùng hay một địa phương là một hệ thống cấu trúc phức tạp bao trùm và có phạm vi ảnh hưởng mức độ cao thấp khác nhau lên mọi hoạt động kinh tế, xã hội trên địa bàn.
Dưới hệ thống đó lại có những phân hệ với mức độ và phạm vi ảnh hưởng thấp hơn, nhưng tất cả đều liên quan gắn bó với nhau, mà sự trục trặc ở khâu này sẽ liên quan, ảnh hưởng đến khâu khác. - Tính kiến trúc: Phát triển kết cấu hạ tầng KT - XH không chỉ là vấn đề kinh tế - kỹ thuật đơn thuần mà các bộ phận cấu thành hệ thống cơ sở hạ tầng phải có cấu trúc phù hợp với những tỉ lệ cân đối, kết hợp với nhau thành một tổng thể hài hòa, đồng bộ. - Tính tiên phong định hướng: Cơ sở hạ tầng của một nước, một quốc gia, một vùng phải hình thành và phát triển đi trước một bước so với các hoạt động kinh tế, xã hội khác. Tính tiên phong của hệ thống cơ sở hạ tầng còn thể hiện ở chỗ nó luôn đi trước, mở đường cho các hoạt động kinh tế - xã hội phát triển tiếp theo và thuận lợi.
- Tính tương hỗ: Các bộ phận trong cơ sở hạ tầng có tác động qua lại với nhau. Sự phát triển của bộ phận này có thể tạo thuận lợi cho bộ phận kia và ngược lại. - Tính công cộng: Các ngành sản xuất và dịch vụ thuộc kết cấu hạ tầng KT - XH tạo ra những sản phẩm hàng hoá công cộng như: Đường giao thông, cầu cống, mạng lưới điện, cung cấp nước… điều đó được thể hiện cả trong xây dựng và trong sử dụng. Bởi vậy, hiệu quả đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng không thể chỉ xét đến lợi ích của doanh nghiệp đầu tư mà còn phải xét đến ý nghĩa phúc lợi của nó đối với toàn xã hội.
- Tính vùng (địa lý): Các ngành sản xuất và dịch vụ thuộc kết cấu hạ tầng KT - XH thường gắn với một vùng, địa phương cụ thể.