Chương 1 CÁC TRƯỜNG HỢP HỦY BỎ DI CHÚC VÀ ĐIỀU KIỆN HỦY BỎ DI CHÚC 13 1. Các trường hợp hủy bỏ di chúc Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết1. Hoặc có định nghĩa khác: Di chúc là sự bày tỏ ý chí của một người (người để lại di sản) nhằm định đoạt toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc một phần tài sản của mình sẽ được chuyển giao cho một hoặc nhiều người sau khi người đó chết2. Theo Điều 390 Quốc triều hình luật thì cha mẹ nhiều tuổi về già phải có trách nhiệm lo làm chúc thư để lại tài sản cho con cái, quy định này nhằm tránh sự tranh chấp tài sản về sau.
Di chúc được lập dưới dạng văn bản gọi là chúc thư. Người có tài sản có thể tự viết chúc thư trong trường hợp không biết chữ thì chúc thư có thể nhờ xã trưởng viết thay và chứng thực (Điều 366 Quốc triều hình luật). Trong trường hợp chúc thư không tuân thủ hình thức do pháp luật quy định thì sẽ không có giá trị pháp lý lúc đó di sản thừa kế được chia theo pháp luật. So với thời Lê, thời Nguyễn mà cụ thể là trong bộ Hoàng Việt Luật Lệ có rất ít chế định liên quan đến thừa kế.
Tuy nhiên, những nguyên tắc về quan hệ tài sản và thừa kế cơ bản vẫn tương tự như luật thời nhà Lê nhưng đối với thừa kế theo di chúc thì trong Hoàng Việt Luật Lệ lại không quy định về hình thức của di chúc mà chỉ có quy định về người thừa kế theo di chúc có quyền nhận di sản sau khi cha mẹ chết (mục 10 quyển 6 Hộ Luật). Điều 321 Bộ Dân luật Bắc Kỳ quy định người vợ không có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản riêng của mình nếu không được người chồng đồng ý. Người cha có thể lập chúc thư để định đoạt tài sản của mình tùy theo ý mình, nhưng phải giữ quyền lợi cho người vợ chính. Người lập chúc thư có thể truất quyền thừa kế của một hay nhiều người trong những người được thừa kế.
Việc truất quyền thừa kế phải lập thành văn bản do viên quản lý văn khế lập hoặc do lý trưởng nơi cư trú của người lập chúc thư. Chúc thư phải làm thành văn bản hoặc do viên quản lý văn khế làm ra hoặc có công chứng thị thực. Chúc thư không có viên chức thị thực phải do 1 Điều 624, BLDS năm 2015 2 Trình tự lập di chúc và các quy định pháp luật hiện hành về thừa kế Luật gia Dương Bạch Long, NXB Lao động – Xã hội, 2010 14 người lập chúc thư viết lấy và ký tên. Nếu người lập chúc thư đọc để người khác viết thay thì phải có ít nhất hai người đã thành niên làm chứng.
Trước đây, Thông tư số 81 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế ban hành ngày 24/07/1981. Theo quy định tại phần A mục IV của TT 81 ta thấy hình thức di chúc cũng được chia làm hai loại là di chúc viết và di chúc miệng. Di chúc có những đặc điểm riêng biệt so với các giao dịch dân sự khác. Trước hết, di chúc chính là sự thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc, ý chí đơn phương này được thể hiện qua việc người lập di chúc toàn quyền định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác sau khi chết.
Người lập di chúc không phải bàn bạc với bất kỳ ai trong việc định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình (trường hợp lập di chúc chung vợ chồng thực chất thì vẫn là phần tài sản của ai thì người đó có quyền định đoạt). Người lập di chúc không có nghĩa vụ phải trao đổi với những người thừa kế về nội dung di chúc. Người lập di chúc phải tự nguyện, không bị đe dọa, cưỡng ép trong việc lập di chúc. Di chúc thể hiện ý chí của người lập di chúc, không bị sự chi phối nào của người khác.
Bằng việc lập di chúc, người để lại di sản đã xác lập một giao dịch dân sự về thừa kế theo di chúc. Ý chí đơn phương của người lập di chúc còn được thể hiện việc người lập di chúc toàn quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình cho bất kỳ ai và có quyền cho ai bao nhiêu phần trăm số tài sản thuộc quyền sở hữu của mình mà không phụ thuộc vào việc người được hưởng thừa kế theo di chúc có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hay thân thích với người lập di chúc. Người lập di chúc có thể cho người này nhiều, người kia ít, hoặc không cho người nào đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật. Nếu như trong hợp đồng dân sự các bên phải thể hiện ý chí thông qua thỏa thuận, bàn bạc, trao đổi thì di chúc chỉ thể hiện ý chí của bên lập di chúc.
Hợp đồng dân sự chỉ phát sinh hiệu lực khi các bên tham gia hợp đồng thống nhất được những điều khoản ghi nhận trong hợp đồng thì di chúc chỉ phát sinh hiệu lực khi đảm bảo các điều kiện do luật định. Thứ hai, di chúc chỉ phát sinh hiệu lực sau khi người lập di chúc chết. Hợp đồng có hiệu lực sau khi ký kết, di chúc có hiệu lực kể từ thời điểm 15 mở thừa kế. Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc.
Hủy bỏ, theo Từ điển Tiếng Việt3, tức là bỏ đi, coi là hoàn toàn không còn có hiệu lực hoặc giá trị gì nữa, hoặc có nghĩa khác “hủy bỏ là làm cho văn bản đã lập không còn hiệu lực pháp luật”4. Hủy bỏ di chúc là việc người để lại thừa kế từ bỏ di chúc của mình bằng cách không công nhận di chúc do mình lập ra là có giá trị5. Theo quan điểm tác giả hủy bỏ di chúc là việc người lập di chúc hủy bỏ bằng nhiều cách thức khác nhau hoặc trong một thời hạn nhất định, di chúc sẽ không còn giá trị hoặc di chúc được thay thế di chúc đã lập bằng di chúc mới thì di chúc cũ cũng được coi là đã bị hủy bỏ. Trước thời điểm người lập di chúc chết, di chúc vẫn chưa có hiệu lực pháp luật nên chưa có giá trị ràng buộc.
Chính vì lẽ đó mà “người lập di chúc có thể hủy bỏ di chúc vào bất cứ lúc nào”6. Quy định trên đã tồn tại trong BLDS năm 1995 (khoản 1, Điều 665) và trong Pháp lệnh thừa kế năm 1990. Quyền hủy bỏ di chúc đã được ghi nhận từ khá lâu ở Việt Nam. Theo một tài liệu “cho tới khi chết người lập di chúc có quyền bãi bỏ chúc thư đã lập.
Quyền này rất quan trọng, đã được án lệ Nam công nhận và đã được quy định đầy đủ trong hai bộ Dân Luật Bắc Trung”7. BLDS chỉ quy định cá nhân có quyền hủy bỏ di chúc, nhưng không quy định các trường hợp hủy bỏ như thế nào, trong trường hợp nào di chúc được coi là hủy bỏ8. Hủy bỏ minh thị Minh thị, theo Từ điển Tiếng Việt9 có nghĩa là cho thấy rõ ràng, tỏ ý một cách rõ ràng. Hủy bỏ minh thị di chúc là việc người lập di chúc thể hiện ý chí công khai bằng một văn bản, nói rõ về việc người lập di chúc không thừa nhận giá trị của di chúc do mình đã lập trước đó.
Trong các văn bản pháp luật hiện hành cũng không nói rõ văn bản thể hiện việc hủy bỏ di chúc minh thị có phải là di chúc hay không, 3 Từ điển Tiếng Việt, NXB Hồng Đức 2010, tr 824 4 Từ điển Luật học Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp và NXB Từ điển bách khoa năm 2006. 5 Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân 2008, tr 327 6 Đỗ Văn Đại, Luật thừa kế Việt Nam, tập 1, Nxb Hồng Đức, 2016, tr.552 7 Vũ Văn Hiền: Chế độ tài sản trong gia đình Việt Nam, Nxb. Giáo dục quốc gia, 1960, tr.352 8 Đỗ Văn Đại, Luật thừa kế Việt Nam, tập 1, Nxb Hồng Đức, 2016, tr.553 9 Nguyễn Quốc Hùng.net/hv/minh%20th%E1%BB%8B 16 song trên thực tế văn bản hủy bỏ di chúc vẫn có giá trị pháp lý, nếu đúng là ý chí của người lập di chúc. Ví dụ: Bản án số 61/2009/DS-ST ngày 09/01/2009 của TAND thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là bản án số 61) có nội dung: Ngày 9/11/1998 bà Nượu lập di chúc nội dung để lại cho 02 người con là Vinh và Sương được trọn quyền thừa kế phần nhà thuộc sở hữu của bà Nượu và phần bà thừa kế của chồng trong căn nhà số 491/23 Huỳnh Văn Bánh.
Di chúc lập tại Phòng Công chứng số 1, thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 7/9/1999 bà Nượu lập di chúc tại UBND phường 14, quận Phú Nhuận, nội dung để lại tài sản chia đều cho 4 người con là ông Ba, bà Sương, bà Vinh, bà Nhẫn. Di chúc này thay cho di chúc lập ngày 9/11/1998. Đến ngày 26/12/2000 bà Nượu có đơn xin hủy di chúc lập ngày 7/9/1999 và yêu cầu sau khi chết tài sản được chia theo pháp luật, được UBND phường 14, quận Phú Nhuận xác nhận.
Tòa án cho rằng: “việc bà Nượu lập tờ di chúc sau cùng vào ngày 26/12/2000 là hoàn toàn hợp lệ và phù hợp với quy định pháp luật như vậy bản di chúc ngày 26/12/2000 là bản di chúc cuối cùng có hiệu lực pháp luật”. Ở đây di chúc năm 1999 đã được người lập di chúc hủy bỏ một cách minh thị bằng đơn xin hủy bỏ nên di chúc này không có giá trị. Trong bản án này, nhận thấy: Tòa án cho rằng tờ đơn xin hủy bỏ di chúc của bà Nượu là di chúc cuối cùng, song theo tác giả, đây không phải là di chúc mà là văn bản hủy bỏ di chúc.