CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HƯỚNG DẪN PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC MÔN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC 1. Lý luận về tự học và hướng dẫn phương pháp tự học 1. Khái niệm và ý nghĩa của tự học * Khái niệm tự học Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học lý luận dạy học trong những năm gần đây, vấn đề tự học tự nghiên cứu đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra bàn luận, trong nhiều tài liệu, công trình khoa học của mình các học giả đã đưa ra nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau xoay quanh vấn đề này, sau đây là một số định nghĩa theo tôi là sâu sắc và cơ bản: - Theo Giáo sư Đặng Vũ Hoạt và Phó giáo sư Hà Thị Đức trong cuốn “Lý luận dạy học đại học” thì “Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học. Đó là một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được qui định”.142] - Theo Giáo sư - Tiến sỹ Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học - là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp.) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi.) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”.621] - Nhà tâm lý học N.ARubakin quan niệm: Tự tìm lấy kiến thức – có nghĩa là tự học.
Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan 10 hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng , kỹ xảo của chủ thể. Từ những quan điểm, định nghĩa về tự học nêu trên, tôi đi đến định nghĩa chung nhất về tự học như sau: Tự học là quá trình nhận thức của cá nhân người học với ý thức tự giác, tích cực, độc lập huy động năng lực trí tuệ và thể lực của bản thân nhằm chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó của nhân loại, biến tri thức đó thành vốn tri thức của mình. Tùy vào điều kiện hoàn cảnh của mỗi cá nhân và chương trình giáo dục - đào tạo mà quá trình tự học có thể thực hiện theo ba cách thức sau: - Cách thức 1: Cá nhân người học tự nghiên cứu theo sở thích và hứng thú môn học mà không có sự hướng dẫn của giáo viên hoặc chuyên gia về lĩnh vực đó. Hình thức này thường gặp phải nhiều khó khăn trong quá trình nghiên cứu, do phải tự mò mẫm nên dẫn đến đi chệch hướng nghiên cứu, phải thực nghiệm nhiều lần hoặc cứ liệu, suy luận mang tính chủ quan của cá nhân… Tuy nhiên quá trình tự nghiên cứu này kết quả sẽ đi đến sự sáng tạo và phát minh ra các tri thức khoa học mới, hình thức tự học này phải được dựa trên nền tảng cá nhân nắm vững tri thức cơ bản lĩnh vực đó và đặc biệt phải có một niềm tin mạnh mẽ, sự khao khát, say mê khám phá tri thức mới.
Đạt tới trình độ tự học này người học đã vươn tới hình thức cao nhất của nghiên cứu khoa học, không thầy hướng dẫn mà vẫn có thể tổ chức có hiệu quả hoạt động nhận thức của mình. - Cách thức 2: Tự học có thầy ở xa hướng dẫn. Đây là hình thức tự học mới nhưng do phù hợp với thời đại nên được ứng dụng khá phổ biến trên thế giới cũng như Việt Nam, mặc dù thầy ở xa nhưng vẫn có sự trao đổi thông tin giữa thầy và trò bằng các phương tiện trao đổi thông tin dưới dạng Fax, email… nhằm phản ánh, cung cấp thông tin và giải đáp các thắc mắc, kiểm tra, đánh giá,.hình thức này được sử dụng nhiều đặc biệt là Hệ đào tạo từ xa. 11 - Cách thức 3: Tự học có thầy trực tiếp hướng dẫn một số tiết trên lớp, sau đó sinh viên về nhà tự học dưới sự hướng dẫn gián tiếp của giáo viên Trong quá trình học tập trên lớp, người thầy có vai trò là nhân tố hỗ trợ, chất xúc tác thúc đẩy và tạo điều kiện để trò tự chiếm lĩnh tri thức.
Trò với vai trò là chủ thể của quá trình nhận thức: chủ động, tự giác, tích cực tham gia vào quá trình học tập. Trong mối quan hệ giữa người thầy và sinh viên thì sinh viên là chủ thể cơ bản và quyết định của quá trình khám phá tri thức. Trong quá trình tự học, tuy người học không trực tiếp trao đổi thông tin với thầy, nhưng dưới sự hướng dẫn gián tiếp của thầy, người học phải phát huy tính tích cực, chủ động tự sưu tầm tài liệu, sắp xếp kế hoạch nghiên cứu để hoàn những yêu cầu do giáo viên đề ra. Nội dung tự học của người học theo hình thức này liên quan trực tiếp với yêu cầu của giảng viên môn học, được giảng viên định hướng về nội dung, mục đích yêu cầu và phương pháp tự học theo một quy trình khoa học để người học thực hiện.
Như vậy ở hình thức tự học thứ ba này quá trình tự học của sinh viên có liên quan chặt chẽ với quá trình dạy học, chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố hướng dẫn phương pháp tự học của giảng viên và quá trình tự học của sinh viên. Do mục đích, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu, ở đề tài này tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu việc hướng dẫn phương pháp tự học môn triết học Mác - Lênin cho sinh viên dưới sự hướng dẫn của giảng viên trong quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo ở trường Đại học Tây Bắc. Với đối tượng là sinh viên Đại học hệ chính quy do đó ta cần phân biệt với tự học của sinh viên Hệ đào tạo từ xa. Theo Luật Giáo dục, học từ xa, vừa học vừa làm, tự học có hướng dẫn thuộc phương thức giáo dục không chính quy (mục d - điều 41 Luật Giáo dục).
Trong các hình thức giáo dục này, người học chủ yếu phải tự học bằng sách giáo khoa, tài liệu và các điều kiện, phương tiện của mình để đạt được một mục tiêu hay một chương 12 trình đào tạo. Như vậy bản chất của việc học từ xa là tự học, người học phải biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo với sự trợ giúp của các cơ sở đào tạo mà trực tiếp là các giảng viên bộ môn. * Ý nghĩa của tự học trong quá trình dạy học Trong quá trình dạy học nói chung, dạy học ở bậc đại học nói riêng, người giảng viên luôn giữ một vai trò quan trọng đặc biệt không thể thiếu được đó là sự tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, hoạt động học tập của sinh viên. Nhưng thực tế cho thấy rằng, dù giảng viên có kiến thức uyên thâm đến đâu, phương pháp giảng dạy hay đến mấy nhưng sinh viên không chịu đầu tư thời gian, không có sự lao động của cá nhân, không có niềm khao khát với tri thức, không có sự say mê học tập và phương pháp học tập hợp lý, không tự giác tích cực trong học tập.
thì việc học tập không thể đạt kết quả cao được. Theo nhà giáo dục ngưòi Nga A.Đixrtervec đã viết: “không thể ban tặng cho hoặc truyền đạt đến bất kỳ một người nào sự phát triển và giáo dục. Bất cứ ai mong muốn được phát triển và giáo dục cũng phải phấn đấu bằng sự hoạt động của bản thân, bằng sức lực của chính mình. Anh ta chỉ có thể nhận được từ bên ngoài sự kích thích mà thôi…Vì thế, sự hoạt động tự lực là phương tiện và đồng thời là kết quả của sự giáo dục” [24, Tr.118] Vì vậy, có thể khẳng định vai trò của hoạt động tự học luôn giữ một vị trí rất quan trọng trong quá trình học tập của người học.
Tự học là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt động học tập của chính cá nhân người học. Ở bậc Đại học đòi hỏi sinh viên phải tiếp thu một lượng kiến thức lớn và chuyên sâu, cho nên ngoài thời gian học trên lớp sinh viên phải tự học, tự nghiên cứu ngoài giờ lên lớp để mở rộng và đào sâu tri thức. Cũng chính thông qua hoạt động tự học này đã giúp rất nhiều cho sinh viên trong quá trình học tập, tự học giúp sinh viên nắm vững tri thức, kỹ năng kỹ xảo và nghề nghiệp trong tương lai. Chính trong quá trình tự học sinh viên đã từng 13 bước biến vốn kinh nghiệm của loài người thành vốn tri thức riêng của bản thân, mở rộng kiến thức, củng cố ghi nhớ vững chắc tri thức, khơi dậy được năng lực của bản thân, biết vận dụng tri thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập mới.
Ngoài ra tự học còn giúp sinh viên có được hứng thú, thói quen và phương pháp tự học thường xuyên để làm phong phú thêm, hoàn thiện thêm vốn hiểu biết của mình. Giúp họ tránh được sự lạc hậu trước sự biến đổi không ngừng của khoa học và công nghệ trong thời đại ngày nay, đặc biệt là định hình phẩm chất cần thiết của một nhà khoa học đó là nghị lực, kiên trì và tính độc lập trong nghiên cứu. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp vai trò của giảng viên và tập thể sinh viên trong nhà trường. Các lực lượng này có tác dụng lớn trong việc động viên khuyến khích hướng dẫn sinh viên tự học một cách đúng hướng và hiệu quả.