CHƯƠNG 1 ĐẶC DIEM CÀ PHÊ XUẤT KHẨU VIỆT NAM VÀ CÁC NHÂN TO ANH HUONG DEN XUẤT KHẨU CÀ PHÊ VIỆT NAM SANG TRUNG ĐÔNG 1.1 Giới thiệu chung về thị trường xuất khau cà phê Việt Nam 1. Khái quát chung về cà phê Việt Nam Hiện nay, Việt nam có hai vùng sản xuất cà phê trọng điểm với hai vùng khí hậu đặc biệt phù hợp với cây cà phê. Vùng thuận lợi nhất cho sự phát triển của cây cà phê vối là các tỉnh Tây Nguyên và Đồng Nai, nơi đây có đất đỏ bazan và các tỉnh miền bắc (với những khu vực có độ cao 600 -800m) phù hợp với cà phê chè. Các loại cà phê Việt nam trồng hai loại cà phê chính : cà phê véi và cà phê chè Trong đó , diện tích cà phê véi chiếm tới hơn 95% tổng diện tích gieo trồng.
Hạt cà phê Robusta có hình bán cầu tròn, mùi thơm dịu, có màu nâu sánh, đậm đặc, lượng cafein cao, vi dang gat không chua phù hop với khẩu vị của người Việt dùng pha cà phê sữa. Nhưng lại không phù hợp với khâu vị người nước ngoài do quá đậm đặc. Còn lại là vùng trồng cà phê chè. Cà phê Arabica là một loại khác trong các loại cà phê ngon ở Việt Nam, giống cà phê này được trồng ở độ cao từ 800 mét trên mực nước biển.
Nếu được trồng từ độ cao từ 1300 — 1500 mét sẽ có hương vị rất ngon. vẻ vùng trồng Cà phê được trồng chủ yếu ở khu vực Tây Nguyên và vùng đôi núi phía Bắc Diện tích gieo trồng cà phê tập trung chủ yếu ở các tỉnh Tây Nguyên như Đắc Lắk, Đắc Nông,. với chủ yếu là cà phê vối.Hiện nay, chủ yếu sản lượng cà phê của cả nước đều được gieo trồng tại đây (chiếm đến 72% tổng diện tích cà phê cả nước và tương đương với 92% sản lượng cà phê). Các tinhr vùng núi phía Bắc như Sơn La, Điện Biên và một số nơi ở Nam Trung Bộ là các vùng có sản lượng cả phê chẻ do các vùng này cao hơn do các vùng này cao hơn nhưng diện tích trồng và sản lượng là không đáng kể so với các vùng trông khác.
Tuy nhiên, chất lượng cà phê voi Viét Nam chua cao do su han ché vé công đoạn thu hái, công nghệ chế biến lạc hậu (chủ yếu là chế biến khô, tự phơi say trong khi thười tiết âm ướt nên xuất hiện nhiều nam mốc). Cụ thể, có khoảng 65% cà phê Việt Nam thuộc loại I với 5% hạt đen, vỡ và hư hỏng do độ ầm. Nguồn cung cà phê trong nước Hiện nay, các nhà xuất khẩu cà phê Việt đang hoạt động là khoảng 200 doanh nghiệp. Các doanh nghiệp này tổ chức thu mua và xuất khẩu cà phê, đồng thời bán lại cho khoảng 30 doanh nghiệp nước ngoài có nhà máy chế biện và có cơ quan đại diện tại Việt Nam.
Nguồn cung trong nước về cà phê ngày càng tăng lên khi diện tích cà phê ngày càng được quy hoạch hợp lý và năng suất cũng tăng dần lên qua các năm. Và đến năm 2019, diện tích cà phê Việt Nam đạt trên 664.000 ha, sản lượng cà phê đạt trên 1,5 triệu tấn nhân/năm; cà phê Robusta chiếm diện tích lớn (93%), còn lại là cà phê Arabica. Tổng sản lượng cà phê 35000 30000 25000 20000 15000 10000 5000 0 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 Hình 1.1: Tổng san lượng cà phê Việt Nam 2010 — 2019 Đơn vị: nghìn bao/60kg Nguồn: Tổng cục thống kê Cầu cà phê Thị trường trong nước Theo công bố của WB cho thấy thị trường nội địa về cà phê của Việt Nam vào năm 2020 là khoảng 125000 tắn/năm, tương ứng với khoảng 1/10 năng lực sản xuất cà phê của quốc gia. Mức tiêu thụ cà phê ở nước ta khá thấp so với sức tiêu dùng nội địa về mặt hàng cà phê của các nước tham gia ICO (Tổ chức xuất khẩu cà phê Thế giới) là khoảng 25% 1.2 Khái quát chung về thị trường cà phê xuất khẩu Tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam giai đoạn 2010 -2018 Theo thống kê từ báo cáo thị trường cà phê Việt Nam, các sản phâm cà phê của Việt Nam hiện đã được xuất khâu đến hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thé, chiếm 14,2% thi phần xuất khẩu cà phê nhân toàn cầu (đứng thứ 2, sau Brazil); đặc biệt, cà phê rang xay và hòa tan xuất khâu đã chiếm 9,1% thị phần (đứng thứ 5, sau Brazil, Indonesia, Malaysia và An D6).
EU là thị trường tiêu thụ nhiều nhất cà phê của Việt Nam, chiếm 40% trong tông lượng và 38% về tổng kim ngạch xuất khâu cả nước; tiếp theo là Đông Nam A, chiếm 13% tổng lượng và tổng kim ngạch. Hiện, các nước xuất khẩu cà phê hàng dau thế giới như Brazil, Indonesia, Colombia. chủ yêu xuất khâu cà phê đưới dạng hạt (green bean), nghĩa là chỉ đừng ở hoạt động sơ chế sau thu hoạch. Một số nước có hoạt động rang và xay nhưng chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tong xuất khâu cà phê.
Trong khi đó, ở Việt Nam, kề từ giữa những năm 90 của thế kỷ trước, hoạt động sơ chế sau thu hoạch đã được quan tâm và đây mạnh. Nhờ vậy, cà phê Robusta từ chỗ có giá bán tại cảng Việt Nam thấp hơn rất nhiều so với giá tham chiếu tại Sở giao dịch hang hóa Luân Đôn, nay đã dần thu hẹp và tiệm cận phù hợp với giá thị trường thế giới. Xuất khẩu sang Hoa Kỳ chiếm 14% trong tổng lượng và tong kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước, đạt 139.5 tan, trị giá 316,65 triệu USD (giảm 17% về lượng nhưng tăng 5,6% về kim ngạch); sang Italia 89.7 tấn, trị giá 197,4 triệu USD chiếm trên 8% trong tổng lượng và tông kim ngạch xuất khâu cà phê của cả nước (giảm 10,3% về lượng nhưng tăng 15% về kim ngạch). Đức — đứng đầu thị trường tiêu thụ cà phê của Việt Nam, đạt 157.6 tấn, trị giá 344,3 triệu USD, chiếm 15% trong tổng lượng và tong kim ngạch xuất khâu cà phê của cả nước (giảm 22% vệ lượng và giảm 0,22% về tri giá so với cùng ky năm ngoái).
Cơ cấu thị trường xuất khẩu cà phê 2019 m Germany m United States of America & ltaly = Spain m Japan m Russian Federation m Belgium mAlgeria m United Kingdom m Malaysia m Thailand m France m Korea, Republic of m India Hình 1.2: Các thị trường xuất khấu cà phê chính của Việt Nam Nguồn: Trademap Nhờ sự thặng dư trong sản xuất, sản lượng cà phê xuất khẩu ra thế gới sẽ phục hồi trở lại và có thể đạt được mức 25,5 triệu bao trong niên vụ 2017 -2018. Đặc biệt, thời gian qua nhờ ưu đãi về thuế quan đối với cà phê chế biến từ các Hiệp định Thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết nên ngày càng nhiều doanh nghiệp quan tâm, chú trọng đầu tư vào các hoạt động chế biến sâu, góp phan nâng cao giá trị gia tăng cho sản pham cà phê nói riêng và kim ngạch xuất khâu của toàn ngành nói chung. Đến nay, cả nước có 97 cơ sở chế biến cà phê nhân, 160 cơ sở chế biến cà phê rang xay, 8 cơ sở chế biến cà phê hòa tan và 11 cơ sở chê biên cà phê phôi trộn.3: Tổng giá trị xuất khẩu cà phê giai đoạn 2010 -2018 Đơn vị: Triệu USD Nguồn: Tổng cục thống kê Số liệu trên cho thấy trong những năm qua, xuất khẩu cà phê của Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, đạt §,2%/năm với kim ngạch bình quân 2,9 tỷ USD/năm giai đoạn 2011-2018, chiếm 15% tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản của cả nước. Bên cạnh đó, hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam có thé sẽ đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức do thị trường toàn cầu có nhiều biến động như dịch bệnh, thương chiến giữa các nước lớn,.
Năm 2019, ngành cà phê trong nước chịu ảnh hưởng nặng nề vì khủng hoảng giá, kim ngạch xuất khâu giảm đáng kể. Theo Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam, giá cà phê xuất khẩu niên vụ này ở mức thấp kỷ lục trong vòng 10 năm lại đây, có thời điểm xuống mức 1.207 USD/tấn đối với cà phê Robusta, 88 cent/Ib đối với cà phê Arabica. Theo báo cáo tổng hợp của Tổng cục Thống kê “Năm 2019 cả nước xuất khẩu cà phê đạt 1,61 triệu tấn (tương đương 26,8 triệu bao), trị giá 2,785 tỷ USD, giảm 13,9% về lượng và giảm 21,2% về giá trị so với năm 2018. Như vậy, năm 2019, xuất khâu cà phê Việt Nam bị tuột mốc 3 tỷ USD so với vài năm trở lại đây.
Ngoài ra, hoạt động xuất khâu cà phê Việt Nam vẫn được đánh giá là có sự tăng trưởng tuy nhiên cà phê vẫn là mặt hàng phải đối mặt với nhiều khó khăn về thị trường trong thời gian tới do sự thay đổi lớn của chi phí vận chuyên và thị trường ngày càng xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh. Bên cạnh đó, chiếm tỷ 7 trọng xuất khâu lớn nhất van là cà phê dang thô nên chưa tạo ra được nhiều giá trị gia tăng và tạo được chuỗi sản xuất sâu trong chuỗi giá trị cà phê thế giới. Nếu tính theo giá xuất khẩu tại cảng Việt Nam thì mỗi tan cà phê hiện chỉ có giá trên dưới 40 triệu đồng, trong khi nếu chế biến sâu sẽ có giá trị gia tăng cao nhất từ 70-100 triệu đồng/tấn. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp chế biến cà phê hiện chưa quan tâm tới các quy trình bảo quản, chế biến, thị trường tiêu thụ, bao bì, sản pham và cả thương hiệu dẫn đến nguồn lợi nhuận thu được khi xuất khẩu cà phê vào các thị trường tiêu thụ lớn của thế giới không cao.
Bước sang năm 2020, mặc dù lượng tiêu thu cà phê quý I⁄2020 của Việt Nam vẫn được dự báo tăng, song với nhiều yêu tố bất định về ty giá, dịch Covid-19 đang phủ bóng đen lên thị trường hàng hoá toàn cau có thé khiến giá cà phê có những diễn biến ngoài dự báo. Đây cũng sẽ là yếu tố gây thêm những khó khăn cho ngành cà phê toàn cầu cũng như thị trường cà phê Việt thời gian tới. Những nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Trung Đông 1.1 Nhân tô thuộc về thị trường Trung Đông 1. Tập quán và thị hiếu tiêu dùng Ké từ thé kỷ XVI tại cà phê đã được người A rap sử dụng như một loại thức uống trong đời sống.
Trải qua hơn 6 thế kỷ phát triển, cà phê giờ đâu được người A rap coi như một loại đồ uống vô cùng phô biến và không thể thiếu trong đời sống hiện đại với lượng tiêu thụ riêng trong năm 2018 đã là .