Chương 1: TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Biểu tượng và biểu tượng nghệ thuật 1. Khái niệm biểu tượng và biểu tượng nghệ thuật 1. Khái niệm biểu tượng Nguồn gốc từ biểu tượng (symbol) bắt nguồn từ tiếng Hy – Lạp, có nghĩa là đồng song hành hay đồng tồn tại, giống như hai vật sánh kề nhau để xem “kẻ nào tám lạng – người nào nửa cân”.
Hay một vật được cắt làm đôi, mảnh sứ, gỗ hay kim loại hai bên mỗi bên giữ một phần, chủ và khách, người cho vay và người đi vay, hai kẻ hành hương, hai người sắp chia tay lâu dài… Sau này lắp ráp hai mảnh lại với nhau, họ sẽ nhận ra mối dây thân tình xưa, món nợ cũ, tình bạn ngày trước. Biểu tượng chia ra và kết lại với nhau, nó chứa hai ý tưởng phân ly và tái hợp, nó gợi lên ý một cộng đồng đã bị chia tách và có thể tái hình thành. Qua thời gian khái niệm về biểu tượng đã có nhiều thay đổi và được mở rộng rất nhiều về nghĩa. Có rất nhiều quan niệm và cách định nghĩa khác nhau về biểu tượng.
Trong triết học và tâm lí học, biểu tượng là khái niệm chỉ một giai đoạn, một hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào các giác quan của ta đã chấm dứt. Như vậy các nhà triết học và tâm lí học đã xem xét biểu tượng như là một giai đoạn của nhận thức, của quá trình tư duy của con người. Nhưng chúng ta không xem xét biểu tượng dưới góc độ đó mà xem xét biểu tượng dưới góc độ của một nhà nghiên cứu văn học. Tác giả Nguyễn Duy Lẫm trong cuốn Biểu trưng (Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa) phân biệt biểu tượng với biểu trưng.
Biểu trưng: “là những kí hiệu và hình ảnh, có chức năng thông tin, truyền đạt thông điệp qua kênh thị giác, để biểu thị một đối tượng hoặc một ý niệm nào đó trong đời sống xã hội”. Cho nên biểu trưng thường là kí hiệu để nhận biết, có thể phai mòn theo năm tháng. Nhưng biểu tượng là một hình thức tín hiệu có nội hàm phong phú 10 z hơn. Nó có thể bao gồm các hình tượng cụ thể hoặc những hình tượng mang hàm nghĩa trìu tượng và đều mang ý nghĩa xã hội sâu sắc.
Tác giả đi đến kết luận : “ Biểu tượng là hình tượng ẩn dụ mang sức mạnh của tâm thức, thường được bảo tồn lâu bền trong kí ức con người”. Để chứng minh cho quan niệm trên của mình tác giả đã đưa ra dẫn chứng: “Người Việt Nam ở thời hiện tại cũng như trong tương lai, có thể không biết đến các hình thức biểu trưng như cờ xí, ấn tín của thời vua Hùng dựng nước, nhưng không bao giờ quên biểu tượng đáng tự hào của mình là con Rồng cháu Tiên. Từ sự phân tích trên của tác giả Nguyễn Duy Lẫm, ta có thể nhận thấy giữa biểu tượng và biểu trưng có những sự khác nhau căn bản sau. Biểu trưng có thể thay đổi, phai mòn theo năm tháng nên biểu trưng nhiều khi chỉ có tính chất nhất thời.
Nó có thể chỉ tồn tại và có ý nghĩa trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Như biểu trưng con Rồng của nhà Lí khác con Rồng nhà Trần và cũng khác con Rồng của nhà Nguyễn… Biểu trưng có tính giới hạn về không gian, nó chỉ có tính chất khu vực. Nó phụ thuộc vào không gian, vào dân tộc mà nó sinh thành. Nên có thể biểu trưng chỉ có ý nghĩa với dân tộc này mà không có ý nghĩa với dân tộc khác.
Như biểu trưng của nước Pháp là chú gà trống Gôloa, biểu trưng của thành phố Vacsava là nàng tiên cá, biểu trưng của thành phố Hải Phòng là hoa phượng đỏ…. Biểu tượng lại không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Biểu tượng là một mã về văn hoá nhưng nó luôn vươn tới ý nghĩa chung. Bởi nó được nhiều người thừa nhận, giàu ý nghĩa và phổ biến hơn.
Đối với biểu tượng nhiều người có thể hiểu được ý nghĩa của nó, thậm chí có những biểu tượng đã phổ biến với toàn thế giới. Như biểu tượng để trao tặng cho người chiến thắng thường là chiếc vòng nguyệt quế. Tác giả C G Jung: “Biểu tượng là một từ ngữ, một danh từ hay một hình ảnh ngay cả khi chúng ta quen thuộc trong đời sống hằng ngày vẫn chứa đựng mối quan hệ liên can, cộng thêm vào đó cái ý nghĩa quy ước và hiển 11 z nhiên của chúng. Trong biểu tượng có bao hàm một điều gì đó mơ hồ, chưa biết hay bị che giấu đối với chúng ta”.
Trong cuốn “ Cẩm nang Mỹ học – Nghệ thuật – Thơ ca – Phê bình” do tác giả Nguyễn Hoàng Đức tuyển dịch (theo Bách khoa New Catholic - Nhà xuất bản Văn hoá nghệ thuật) đã quan niệm: “Biểu tượng là cái chất trên vai một trọng trách – qua đó chúng ta tìm thấy một hình thù – cái chứa đựng một sức văng vô giới hạn hay một tiềm năng tự siêu vượt khỏi thân hình”. Biểu tượng mang trong mình trọng trách thể hiện những ý nghĩa khác, vượt khỏi bản thân của biểu tượng. Và ý nghĩa mà biểu tượng biểu thị có một “sức văng vô giới hạn” – ý nghĩa của nó rất phong phú, đa dạng. Có lẽ ngay khi hình thành biểu tượng các tác giả - những cha đẻ của biểu tượng cũng không hình dung hết được ý nghĩa mà nó mang lại có thể nhiều và phong phú đến vậy.
Các tác giả dù có quan niệm như thế nào về biểu tượng thì nó vẫn có một nét nghĩa chung xuất phát từ ý nghĩa của từ gốc. Nó là dấu hiệu để ta có thể nhận biết, hiểu hơn về một đối tượng khác mà giữa chúng có một sợi dây liên kết. Đó có thể là mối tương quan rất tự nhiên hoặc một liên kết nào đó về mặt ý nghĩa. Mối quan hệ đó thường được đem so sánh với ẩn dụ và hoán dụ.
Sách “Từ điển thuật ngữ văn học” (Nhà xuất bản giáo dục) khẳng định:“Biểu tượng giống với ẩn dụ, hoán dụ, biểu tượng cũng được hình thành trên cơ sở đối chiếu, so sánh các hiện tượng, đối tượng có những phương diện, khía cạnh, những đặc điểm gần gũi, tương đồng, nhằm làm nổi bật bản chất, tạo ra một ý niệm cụ thể, sáng tỏ về hiện tượng hay đối tượng đó”. Và khác nhau ở chỗ “Biểu tượng không loại bỏ ý nghĩa cụ thể, cảm tính của vật tượng trưng hoặc của hình tượng nghệ thuật. Trong khi đó ẩn dụ, hoán dụ có xu hướng làm mờ đi ý nghĩa biểu vật trực quan của lời nói.” Nếu như ý nghĩa của ẩn dụ, hoán dụ chỉ có ý nghĩa trong ngữ cảnh cụ thể của từng văn bản, thì ý 12 z nghĩa của biểu tượng tồn tại ở cả ngoài văn bản. Ví dụ như trường hợp, khi Tố Hữu viết: “Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” Thì ý nghĩa của từ “áo chàm” để chỉ đồng bào Việt Bắc chỉ tồn tại trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu mà thôi.
Ta có thể thấy giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt của ẩn dụ, hoán dụ là dựa trên mối quan hệ tương đồng hay tương cận về nghĩa. Nhưng đó chỉ là những qui ước rất đơn giản về nghĩa và chúng chỉ có tác dụng biểu nghĩa. Và có thể chỉ tồn tại trong phạm vi một tác phẩm, một văn cảnh mà thôi. Còn biểu tượng mối quan hệ đó chặt chẽ hơn, đầy đủ hơn, đẹp đẽ hơn và tồn tại lâu bền hơn, trong phạm vi rộng hơn.
Như tác phẩm “Người mẹ cầm súng” của Nguyễn Đình Thi thì biểu tượng người mẹ cầm súng bảo vệ Tổ quốc không chỉ là biểu tượng cho lòng yêu nước, ý chí đánh đuổi kẻ thù xâm lược của Việt Nam mà nó đã vươn tới tầm biểu tượng thế giới là cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của các dân tộc yêu tự do, hoà bình. Như vậy các tác giả đều có một quan niệm thống nhất về biểu tượng. “Biểu tượng là những hình ảnh sự vật cụ thể cảm tính bao hàm trong nó nhiều ý nghĩa, gây được ấn tượng sâu sắc với người đọc. Giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt có mối quan hệ chặt chẽ với nhau”.
Khái niệm biểu tượng nghệ thuật Biểu tượng ra đời sớm và trở thành một phương tiện hữu hiệu để con người giao tiếp, biểu đạt suy nghĩ của mình. Biểu tượng là một khái niệm chung, khái quát. Biểu tượng có thể được chia tách thành: biểu tượng nghệ thuật, biểu tượng văn hóa, biểu tượng đời sống… Nhưng có lẽ biểu tượng nghệ thuật vẫn là lĩnh vực được nhiều người quan tâm hơn cả. Trong lĩnh vực văn hoá tinh thần hiện nay con người quan niệm có bẩy loại hình nghệ thuật: Hội hoạ, điêu khắc, âm nhạc, văn học, kiến trúc, 13 z điện ảnh … Trong bất cứ lĩnh vực nghệ thuật nào các tác giả đều chú ý tới việc xây dựng biểu tượng nghệ thuật.
Biểu tượng nghệ thuật được coi là kí hiệu thẩm mĩ đa nghĩa, bao gồm cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Nó chính là sự mã hoá cảm xúc, ý tưởng của tác giả. Biểu tượng nghệ thuật gắn liền với những sáng tạo về nghệ thuật và thường hướng tới chân, thiện, mĩ. Thể hiện quan điểm thẩm mĩ về cái đẹp, cái cao cả của tác giả.
Sự giống nhau và khác nhau giữa biểu tượng và biểu tượng nghệ thuật 1. Sự giống nhau giữa biểu tượng và biểu tượng nghệ thuật Ở phần trên ta đã tìm hiểu khái niệm của biểu tượng và biểu tượng nghệ thuật cũng như đã phân tích các khía cạnh khác nhau của khái niệm. Khái niệm về biểu tượng ra đời trước và biểu tượng nghệ thuật ra đời sau, cùng với sự xuất hiện của các ngành nghệ thuật. Biểu tượng nghệ thuật ra đời sau và là một bộ phận nhỏ thuộc về cái riêng được chia tách từ cái chung là biểu tượng nên giữa biểu tượng và biểu tượng nghệ thuật có những điểm chung nhất định.
Giữa biểu tượng và biểu tượng nghệ thuật đều có tính hai mặt. Nó luôn bao gồm cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Tức là lấy cái này biểu đạt ý nghĩa khác. Biểu tượng và biểu tượng nghệ thuật đều mang trong mình ý nghĩa lớn lao vượt ra ngoài bản thân nó.
Mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt là mối quan hệ có lí do.