( BỘ KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VẢ MÔI TRƯỜNG. TRUNG TÂM THÔNG TIN TƯ LIỆU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA BAO CAO TONG KET DE ÁN CẤP CƠ SỐ: HOAN THIEN KHO MAU VNMARC Chủ nhiệm đề án: Ths. Cao Minh Kiểm Cần bộ phốt hợp: CN Vũ Văn Sơn Lov - b0- AF0 HER Hà Nội, 2001 Mie te, 418102 MỤC LỤC Mục lục. Từ viết tắt trong báo cáo Phần I.
Những vấn đề chung. Vé qué trình Nghiên cứu lựa chọn khổ mẫu T1. Một số kết quả tìm hiểu khổ mẫu MARC 21 1. Quá trình phát triển của MARC 21.
Nguyên tác phát triển của MARC 21. Thong tin luu giữ trong biểu ghỉ. Biểu ghi MARC21. Trường đữ liệu.
Các trường đữ liệu. Những phiên bản khé mau MARC 21 7 7. Sơ bộ so sánh MARC 2I với UNIMARC I7 III. Dé xuất nguyên tắc lựa chọn mô hình khổ mẫu.
Những nguyên tắc xây dựng khổ mẫu. Loại hình dữ liệu dự kiến bao quát. Laya chọn khổ mẫu làm mô hình xây dung MARC cho Việt Nam. Dự thảo khổ mẫu MARC 21 Việt Nam rút gọn.
Tên gọi của khổ mẫu. Nguyên tắc cập nhật MARC 21 Việt Nam rút gọn. Tổ chức cập nhat MARC 21 Việt Nam rút gọn.------ 23 4: Tài liệu hướng dẫn V, Kết luận Y8. 2£ Phụ lục: Khổ mẫu MARC 21 Việt Nam rút gọn.ccsecsệ- 2c AACR2 ALA CSDL MARBI MARC UNIMARC VISTA TU VIET TAT TRONG BAO CÁO Anglo-American Cataloguing Rule II American Library Association Cở sở dữ liệu Machine Readable Bibliographic Informatio: Committee Khổ mẫu biên mục máy tính đọc được (Machine Readable Cataloging) Khổ mẫu biên mục máy tính đọc được Universal Machine Readable Catalogue Mạng Thông tin Khoa học và Công nghệ Việ Nam (Vietnam Information for Science anc Technology Advance) ie ˆ - : Báo cáo tổng kế để án "Hoàn thiện Khổ mẫu VNMARC" 5 - Làm cơ sở để đưa ra chuẩn khổ mẫu của Việt Nam.
Với mục tiêu để ra như trên, Để án xác định sẽ thực hiện những nội dung nghiên cứu như sau: - Tìm hiểu các Khổ mẫu hiện đại, tập trung vào hai khổ mẫu MARC 31 va UNIMARC. : - Xây dựng khổ mẫu MARC cho đữ liệu thu mục cho Việt Nam, có thể lấy tên là VNMARC hoặc tên khác nhưng phải thể hiện tính đặc thù - Việt Nam. -_- Biên soạn tài liệu hướng dẫn sử dụng khổ mẫu cho các CSDL thư _ mực dựa trên nền tảng khổ mẫu được đề xuất. CAC SAN PHAM CUA ĐỀ ÁN Với các mục tiên và nội dung nghiên cứu như trên đề án đã có nhiệm vụ nghiên cứu và đưa ra các sản phẩm cụ thể như sau: - Bản mô tả Khổ mẫu VNMARC.
- Tài liệu hướng dẫn sử dụng VNMARC. - Báo cáo tổng kết về nghiên cứu khổ mẫu MARC. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Để giải quyết nhiệm vụ đặt ra, nhóm nghiên cứu đã áp dụng các phương pháp sau: ® Nghiên cứu tài liệu © Tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, bằng việc nghiên cứu các mộ hình thích hợp của quốc tế để áp đụng vào điều kiện Việt Nam ® Phương pháp chuyên gia: thông qua hội thảo, lấy ý kiến chuyên gia 5. CÁC HỘI THẢO PHỤC VỤ TRIEN KHAI DE AN Trong trình triển khai để án, nhóm nghiên cứu đã tổ chức một số cuộc hội thảo chuyên để để lựa chọn các khổ mẫu nền, lựa chọn những trường đữ liệu cần thiết.
Ngoài ra, đề án đã phối hợp với Trung tâm tổ chức Hội thảo Quốc gia MARC Việt Nam vào hai ngày 22-23/11/2001 tại Hà Nội. Kết qua cia dé án đã được trình bay tại hội thảo để lấy ý kiến của các đại diện một số cơ- quan thông tín thư viện lớn của Việt Nam. Tại Hội thảo Quốc gia, Dé án đã trình bày hai báo cáo quan trọng là: _ Báo cáo tổng kế để án "Hoàn thiện Khổ mẫu VNMARC" 4 PHAN I. NHUNG VAN DE CHUNG DAT VAN DE Việc ứng dụng máy tính điện tử vào hoạt động thông tin- thư viện đã .,: đãn đến sự ra đời của các khổ mẫu mô tả tài liệu thư viện máy tính tính đọc được (machine-readable).
Rất nhiều nước trên thế giới đã phát triển các khổ mẫu MARC (viết tắt từ MAchine Readable Cataloguing) cho hệ thống thư ' viện của mình từ nhiều năm nay. Việt Nam đã bắt đầu hoạt động tin học ”, hoá công tác thông tin thư viện từ giữa những năm 1980 với việc xây dựng các cơ sở dữ liệu (CSDL) thư mục, trong đó có những CSDL về sách, tạp chí, báo cáo kết quả nghiên cứu, luận án/luận văn,. Do nhiều nguyên nhân khác nhau như chưa có kinh nghiệm, sự phát triển mang tính tự phát, thiếu sự phối hợp,. nên các CSDL thư mục ở Việt Nam có cấu trúc mang tính cục bộ, không thống nhất, không tuân thủ những khổ mẫu quốc tế.
Vì thế ảnh hưởng không nhỏ đến việc trao đổi dữ liệu, đến sự phát triển hoạt động tiêu chuẩn hoá của ngành thông tin-thư viện. Nhận thức được vai trò của công tác chuẩn hoá khổ mẫu thư mục nhằm tạo điều kiện cho việc trao đối dữ liệu thư mục giữa các tổ chức thông tin thư viện, từ một vài năm nay Trung tâm Thông tin Thông tin Tư liệu KHCN Quốc gia đã đầu tư nghiên cứu phát triển khổ mẫu MARC làm cơ sở cho việc tiến tới xây dựng một khổ mẫu thu mực thống nhất cho các tổ chức thông tin và thư viện ở Việt Nam. Báo cáo này tổng kết kết quả của để án cấp cơ sở "Hoàn thiện khổ mau VNMARC" cia Trung tam Thong tin Tư liệu Khoa học và Công nghệ Quốc gia, thực hiện theo Quyết định số 32/QĐÐ-TTTL ngày 21/6/2001 của Giám đốc Trung tâm và Hợp đồng Nghiên cứu KHCN số 42/HĐKH ký ngày 21/6/2001. Tham gia thực hiện để án có các cán bộ: 1.
Cao Minh Kiểm, Chủ nhiệm đề án 2. Vũ Văn Sơn, nghiên cứu viên chính 2. MỤC TIỂU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỂ ÁN Mục tiêu tổng quát của Đề án là thúc đẩy quá trình tiêu chuẩn hoá hoạt động thông tin-thư viện, hỗ trợ công tác trao đổi dữ liệu giữa các cơ quan thông tin thư viện Việt Nam, hội nhập quốc tế. Mục tiêu cụ thể của để án bao gồm: - Đề xuất một khổ mẫu phù hợp với Việt Nam, trên cơ sở nghiên cứu và tiếp thu các điểm mạnh của các khổ mẫu quốc tế.
_ + Bao cao tổng kế đề án "Hoàn thiện Khổ mẫu VNMARC" 6 —— '- §o sánh MARC 2] và UNTMARC trong bối cảnh xây dựng _ VNMARC, cua tac gia Vi Van Son. - Đề xuất khổ mẫu MARC Việt Nam cho dữ liệu thư mục, của tác giả Cao Minh Kiểm. cos Hai báo cáo đã được Hội thảo đánh giá cao va đóng góp nhiều ý -. kiếm bổ ích cho việc xây dựng Khố mẫu MARC Việt Nam.
Báo cáo tổng kế đê án "Hoàn thiện Khổ mẫu VNMARC" ` 7 PHAN IL. KET QUA NGHIÊN CỨU 1. VỀ QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN KHỔ MẪU Lựa chọn khổ mẫu là một công việc đòi hỏi có những căn cứ khoa học. Vì thế để có những căn cứ khoa học xác đáng làm cơ sở cho việc xây dựng một khổ mẫu thư mục phù hợp, có tính khả thi, được cộng đồng thông tin-thư viện Việt Nam chấp nhận, Trung tâm Thông tin Tư liệu Khoa học và -:Công nghệ Quốc gia đã cho tiến hành để tài nghiên cứu cấp trung tâm - "Nghiên cứu cứu dự thảo khổ mẫu chung cho các cơ quan thông tin - thư ˆ viện trong hệ thống Thông tin KHCN Quốc gia" ông Vũ Văn Sơn làm chủ nhiệm để tài.
Đề tài đã đi đến kết luận sơ bộ là khổ mẫu UNIMARC có thể được sử dụng để xây đựng khổ mẫu VNMARC cho Việt Nam. Trong giai đoạn gần đây, chúng ta đã nhận được nhiều thông tin hơn về những phát triển trong lĩnh vực khổ mẫu MARC, đặc biệt khổ mẫu MARC 21. Khổ mẫu MARC 21 là một trong những khổ mẫu hiện đại, được nhiều nước trên thế giới áp dụng, kể cả nhiều nước ở khu vực Đông Nam á. Vì thế, hầu hết các nước đều cho rằng sẽ sử dụng khổ mẫu MARC 21 lam nên táng cho Vì thế để đảm bảo việc lựa chọn khổ mẫu, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu tiếp theo nhằm tìm hiểu sâu hơn về khổ mẫu MARC 21 để đánh giá khả năng sử dụng nó như một khố mẫu chuẩn để dựa vào đó phát triển khổ mẫu MARC Viét Nam.
Do trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trung tâm do ông Vũ Văn Sơn chủ trì năm 2000, đã nghiên cứu khá kỹ khổ mẫu UNIMARC, do đó trong báo cáo này chúng tôi sẽ để cập kết quả tìm hiểu khổ mẫu hiện đại MARC 21, mội khổ mẫu đang được nhiều nước chú ý và áp dụng. Kết quả nghiên cứu so sánh USMARC và UNMARC do tác giả Vũ Văn Sơn thực hiện được giới thiệu chỉ tiết trong phụ lục kèm theo. MỘT SỐ KẾT QUẢ TÌM HIỂU KHỔ MẪU MARC 21 1. Quá trình phát triển của MARC 21 Thuật ngữ MARC được tạo ra sự viết tắt cụm từ tiếng Anh Machine- Readable Cataloguing - Biên mục đọc được bằng máy tính.
Đó là khổ mẫu cho phép máy tính lưu trữ và tìm kiếm các thông tin biên mục của các mục lục thư viện được tin học hoá. Từ năm 1964, Thư viện Quốc hội Mỹ (TVQH) đã tiến hành nghiên cứu xây dựng một hệ thống biên mục máy đọc được. Họ đã phát triển được khổ mẫu để áo dụng cho hệ thống biên mục in học học hoá của mình. Day là sự khởi đầu của viện phát triển khổ mẫu MARC ở Mỹ và trên thế giới.
“ - - Báo cáo tổng kế đề án "Hoàn thiện Khổ mẫu VNMARC" 8. Lúc đầu đó là sản phẩm của việc ứng dụng máy tính điện tử để sản xuất ra các phiếu mục lục thư viện truyền thống dựa trên quy tắc mô tả thư mục Anh-Mỹ AACR2 (Anglo-American Cataloguing Rule II). Do su vi ti tién phong của TVQH Mỹ và cũng thể hiện tính khoa học và phù hợp cao nên khổ mẫu MARC của TVQH Mỹ đã trở thành một tiêu chuẩn de facto (được thực tế chấp nhận) của nhiều thư viện lớn ở Mỹ và trên thế giới. viện công cộng, thư viện của các trường đại học, học viên ở Mỹ đã tìm thấy „ ” dợi ¡ch trong việc chia sẻ biên mục tự động.
Họ có thể mua được các bản biên mục trên máy tính từ các biểu ghi thư mục dựa trên khổ mẫu MARC - + của TVQH Mỹ. -, Khổ mẫu MARC cũng là cơ sở để nhiều nước tự xây dựng cho mình khổ mẫu quốc gia, thí dụ như UK MARC của Anh, CAN-MARC của Canada, AUS-MARC của Ôxtralia,.