Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Giao kết hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam" do sinh viên Bùi Phương Linh (MSV: 453511) thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đỗ Giang Nam tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2024).

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn: Bước vào thế kỷ XXI, đời sống kinh tế - xã hội phát triển nhanh chóng; hợp đồng trở thành công cụ pháp lý cơ bản để các cá nhân, tổ chức thiết lập các giao dịch dân sự, luân chuyển tài sản, quyền tài sản và thực hiện công việc. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật hợp đồng Việt Nam tương thích với các chuẩn mực quốc tế (như CISG 1980, PICC 1994). Kế thừa Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005, BLDS năm 2015 đã bổ sung nhiều quy định mới tiến bộ. Tuy nhiên, sau hơn 8 năm áp dụng, sự xuất hiện của các phương thức giao kết mới (như hợp đồng điện tử) và sự phát triển của thực tiễn giao lưu dân sự đã bộc lộ những khoảng trống pháp lý:

  • Khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng chưa có tiêu chí rõ ràng để đánh giá mức độ xác định của ý chí.
  • Quy định liệt kê mang tính đóng về các trường hợp chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 391 BLDS 2015) gây thiếu sót trong thực tiễn.
  • Thiếu văn bản hướng dẫn thế nào là "thời gian hợp lý" khi bên đề nghị không ấn định thời hạn trả lời.
  • Xuất hiện mâu thuẫn nội tại giữa các điều khoản về thời điểm giao kết hợp đồng.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu chung: Nghiên cứu toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về giao kết hợp đồng; rà soát, đánh giá hệ thống quy phạm pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam; chỉ ra những hạn chế, bất cập và đề xuất các kiến nghị lập pháp, giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành.
  • Mục tiêu cụ thể (được đánh số theo văn bản):
    1. Hoàn thiện các quy định về đề nghị giao kết hợp đồng (tính xác định của người được đề nghị, giao kết bằng văn bản, giá trị pháp lý của đề nghị điện tử, cấu trúc điều khoản về chấm dứt đề nghị).
    2. Hoàn thiện các quy định về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng (xác định tiêu chí "thời gian hợp lý", quy định về sự im lặng theo tập quán, chấp nhận bằng hành vi cụ thể).
    3. Hoàn thiện các quy định về thời điểm giao kết hợp đồng (xử lý mâu thuẫn giữa các khoản tại Điều 400 BLDS 2015).
    4. Nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với các chủ thể tham gia giao kết và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật về giao kết hợp đồng dân sự trong hệ thống pháp luật Việt Nam, các công trình nghiên cứu khoa học, tài liệu pháp lý quốc tế và thực tiễn áp dụng.
  • Phạm vi nội dung: Các quy định điều chỉnh giai đoạn giao kết hợp đồng trong BLDS năm 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan (Luật Giao dịch điện tử 2023, Nghị định 52/2013/NĐ-CP, Luật Công chứng 2014...).
  • Phạm vi không gian: Hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia tiêu biểu (Hoa Kỳ, Anh, Đức, Trung Quốc).
  • Phạm vi thời gian: Tập trung vào các quy định pháp luật thực định hiện hành từ khi BLDS năm 2015 có hiệu lực và các văn bản pháp luật trước đó (BLDS 2005) mang tính kế thừa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung pháp lý và cơ sở lý luận:

  • Hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam: Hiến pháp năm 2013; Bộ luật Dân sự năm 2015; Bộ luật Dân sự năm 2005; Luật Giao dịch điện tử năm 2023; Luật Công chứng năm 2014; Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử.
  • Văn bản và điều ước quốc tế: Công ước Liên Hợp Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 (CISG); Bộ nguyên tắc về Hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT năm 1994 (PICC); Bộ luật Dân sự Đức (BGB); Bộ luật Dân sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2020.
  • Án lệ và học thuyết nước ngoài: Học thuyết luật hợp đồng của Hoa Kỳ (Restatement of the Law of Contracts); án lệ Anh (Brogden v Metropolitan Railway, Carlill v Carbolic Smoke Ball Co.).
  • Khái niệm nền tảng: Giao kết hợp đồng (sự bày tỏ và thống nhất ý chí giữa các bên), đề nghị giao kết (offer), chấp nhận đề nghị (acceptance), đề nghị mới (counter-offer), nguyên tắc hộp thư (mail box rule).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (Nghị quyết Đại hội Đảng XI; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị).
  • Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành: Phân tích quy phạm pháp lý, tổng hợp lý luận, diễn dịch, quy nạp, phương pháp so sánh luật học (comparative law), và phương pháp phân tích lịch sử pháp luật.

Nguồn dữ liệu và tài liệu tham khảo:

  • Giáo trình và từ điển chuyên ngành của Trường Đại học Luật Hà Nội.
  • Luận văn thạc sĩ, sách chuyên khảo, bài báo trên các tạp chí chuyên ngành luật (Tạp chí Luật sư Việt Nam, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, Tạp chí Công Thương).
  • Báo cáo số 151/BC-BTP ngày 15/7/2013 của Bộ Tư pháp về việc tổng kết thi hành BLDS năm 2005 từ 21 Bộ, ngành trung ương và 63 tỉnh/thành phố.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giao kết hợp đồng

Chương 1 tập trung làm rõ bản chất pháp lý, các nguyên tắc cơ bản và trình tự của quá trình giao kết hợp đồng, đồng thời phân tích kinh nghiệm lập pháp quốc tế.

  • Khái niệm và bản chất: Giao kết hợp đồng dân sự là một quá trình pháp lý gồm ba yếu tố cốt lõi: sự tham gia của các bên; sự bày tỏ ý chí đơn phương của từng bên; và sự kết hợp, thống nhất các ý chí riêng biệt đó để đạt tới sự đồng thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
  • Nguyên tắc giao kết hợp đồng:
    • Tự do giao kết nhưng không trái pháp luật, đạo đức xã hội: Tôn trọng quyền tự định đoạt ý chí của chủ thể, đồng thời bảo vệ trật tự công cộng và thuần phong mỹ tục.
    • Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng: Ý chí biểu lộ ra bên ngoài phải phù hợp với ý chí nội tâm; các chủ thể bình đẳng về địa vị pháp lý; có nghĩa vụ hợp tác và cung cấp thông tin trung thực.
    • Nguyên tắc giao kết hợp đồng điện tử (Luật GDĐT 2023): Quyền thỏa thuận sử dụng phương tiện điện tử; tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật, bảo đảm tính toàn vẹn và bảo mật của thông điệp dữ liệu.
  • Trình tự giao kết hợp đồng:
    • Đề nghị giao kết: Hành vi pháp lý đơn phương thể hiện rõ ý định giao kết, có nội dung cụ thể, rõ ràng, gửi đến chủ thể xác định hoặc công chúng, và bên đề nghị phải chịu sự ràng buộc khi đề nghị được phát đi.
    • Chấp nhận đề nghị: Sự đồng ý toàn bộ và vô điều kiện của bên được đề nghị đối với toàn bộ nội dung của đề nghị, thực hiện bởi chủ thể có đủ năng lực hành vi trong thời hạn xác định.
  • Kinh nghiệm quốc tế về giao kết hợp đồng:
    • Hệ thống Common Law:
      • Hoa Kỳ: Coi trọng ý định giao kết rõ ràng; phân biệt đề nghị với lời mời giao kết; áp dụng nguyên tắc mail box rule (chấp nhận có hiệu lực từ thời điểm gửi đi qua bưu điện); chấp nhận có sửa đổi được coi là lời đề nghị mới (counter-offer); cho phép rút lại đề nghị bất kỳ lúc nào trước khi được chấp nhận trừ hợp đồng tùy chọn (option contract).
      • Anh: Phân biệt đề nghị với lời mời chào hàng (invitation to treat - như trưng bày hàng hóa, quảng cáo); thông báo chấp nhận phải được bên đề nghị biết, ngoại trừ gửi thư qua bưu điện; chấp nhận có thể thông qua hành vi thực tế (Brogden v Metropolitan Railway) hoặc từ bỏ yêu cầu thông báo trong các giao dịch có thưởng (Carlill v Carbolic Smoke Ball Co.).
    • Hệ thống Civil Law:
      • Đức: Điều 145 BGB quy định bên đưa ra đề nghị phải chịu sự ràng buộc; Điều 147 và Điều 148 BGB quy định về thời hạn hiệu lực và "thời gian hợp lý"; Điều 150 BGB coi chấp nhận kèm điều kiện/sửa đổi là sự từ chối gắn liền với đề nghị mới; chấp nhận có thể có hiệu lực mà không cần thông báo nếu tập quán hoặc bản chất giao dịch cho phép (Điều 151 BGB).
      • Trung Quốc: Bộ luật Dân sự 2020 (gồm 1.260 điều, riêng phần Hợp đồng có 562 điều thay thế Luật Hợp đồng cũ) nhấn mạnh nguyên tắc tự do đi liền với trật tự công cộng; Điều 491 quy định chi tiết về việc xác lập hợp đồng điện tử qua mạng Internet khi người mua hoàn tất đặt hàng thành công.
Tiêu chí Hệ thống Common Law (Hoa Kỳ, Anh) Hệ thống Civil Law (Đức, Trung Quốc)
Bản chất đề nghị Lời hứa/yêu cầu ràng buộc, phân biệt ranh giới với lời mời thương lượng (invitation to treat). Hành vi pháp lý đơn phương bày tỏ ý chí chịu ràng buộc theo luật thực định.
Hiệu lực của chấp nhận gửi qua bưu điện Áp dụng nguyên tắc hộp thư (Mailbox rule): có hiệu lực ngay khi thư được gửi đi. Áp dụng nguyên tắc tiếp nhận (Receipt rule): có hiệu lực khi đề nghị/chấp nhận tới hộp thư của người nhận.
Sửa đổi nội dung đề nghị khi chấp nhận Coi là từ chối và tạo thành một đề nghị mới (Counter-offer). Xem là từ chối gắn liền với đề nghị mới (Điều 150 BGB Đức; Luật Hợp đồng Trung Quốc).
Quy định về hợp đồng điện tử Linh hoạt theo tập quán thương mại và án lệ giải thích ý chí các bên. Luật hóa cụ thể trong Bộ luật Dân sự (ví dụ: Điều 491 BLDS Trung Quốc 2020).

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng

Chương 2 phân tích hệ thống quy phạm thực định của BLDS năm 2015 và các văn bản liên quan, chỉ ra các điểm tiến bộ và những bất cập, xung đột kỹ thuật lập pháp.

  • Khái quát các quy định pháp luật thực định:
    • Khái niệm hợp đồng (Điều 385 BLDS 2015): Lược bỏ từ "dân sự" so với Điều 388 BLDS 2005, mở rộng phạm vi áp dụng của BLDS với tư cách là đạo luật chung điều chỉnh mọi quan hệ hợp đồng (kinh tế, thương mại, lao động...).
    • Chế định đề nghị giao kết (Điều 386 - Điều 391): Khoản 1 Điều 386 bỏ cụm từ "cụ thể" và mở rộng chủ thể nhận đề nghị đến "công chúng" (đồng bộ với Điều 12 Nghị định 52/2013/NĐ-CP); Điều 387 luật hóa nghĩa vụ cung cấp thông tin và bảo mật thông tin bí mật trong giai đoạn tiền hợp đồng; Điều 388 quy định thời điểm có hiệu lực của đề nghị; Điều 389 và Điều 390 quy định điều kiện thay đổi, rút lại và hủy bỏ đề nghị.
    • Chế định chấp nhận đề nghị (Điều 392 - Điều 397): Điều 394 quy định về thời hạn trả lời chấp nhận và trường hợp thông báo đến chậm vì lý do khách quan; Điều 395 và Điều 396 ghi nhận giá trị pháp lý của đề nghị/chấp nhận khi một bên chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự (trừ trường hợp gắn liền với nhân thân); Điều 397 quy định quyền rút lại thông báo chấp nhận.
    • Thời điểm giao kết hợp đồng (Điều 400 BLDS 2015 và Luật GDĐT 2023): Xác định theo thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận, thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản, hoặc thời điểm các bên đạt được thỏa thuận bằng lời nói.
  • Bất cập, thiếu sót trong quy định pháp luật:
    • Về đề nghị giao kết hợp đồng:
      • Điều 386 BLDS 2015 chưa đưa ra tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ rõ ràng, xác định của ý chí, thiếu quy định tạo cơ sở pháp lý cho việc giải thích ý chí của bên đưa ra đề nghị.
      • Chưa quy định rõ giá trị pháp lý ràng buộc của đề nghị bằng văn bản có đủ nội dung nhưng thiếu chữ ký, hoặc chỉ điểm chỉ mà không ký (đặc biệt khi thực tế công chứng viên thường yêu cầu cả ký và điểm chỉ theo Luật Công chứng 2014), hoặc thiếu con dấu của pháp nhân.
      • Thiếu khung pháp lý xác định giá trị ràng buộc đặc thù của đề nghị giao kết dưới hình thức điện tử.
      • Kỹ thuật lập pháp tại Điều 391 BLDS 2015 sử dụng phương pháp "liệt kê đóng" các trường hợp chấm dứt đề nghị, dẫn đến việc bỏ sót các trường hợp trên thực tế (như trường hợp từ chối ngầm định hoặc từ chối kèm điều kiện).
    • Về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng:
      • Khoản 1 Điều 394 BLDS 2015 quy định trường hợp không ấn định thời hạn thì việc trả lời phải trong "thời hạn hợp lý", nhưng luật và các văn bản dưới luật chưa có tiêu chí hướng dẫn xác định khoảng thời gian này.
      • Quy định về sự im lặng tại Khoản 2 Điều 393 BLDS 2015 chỉ thừa nhận ngoại lệ khi "có thỏa thuận hoặc theo thói quen", chưa bao quát ngoại lệ "theo tập quán" như chuẩn mực quốc tế tại CISG và PICC.
      • Chưa có quy định cụ thể về việc bên được đề nghị chấp nhận bằng hành vi nhưng không gửi thông báo cho bên đề nghị, gây khó khăn cho việc xác định thời điểm hợp đồng được xác lập.
    • Về thời điểm giao kết hợp đồng:
      • Tồn tại mâu thuẫn giữa Khoản 1 (hợp đồng giao kết khi bên đề nghị nhận được chấp nhận) và Khoản 4 Điều 400 BLDS 2015 (hợp đồng bằng văn bản giao kết tại thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản), bởi thời điểm ký sau cùng và thời điểm bên đề nghị nhận được văn bản không phải lúc nào cũng trùng khớp.
      • Khoản 3 Điều 400 chưa có tiêu chí phân định rõ ràng thời điểm các bên "đã thỏa thuận xong về nội dung" đối với hợp đồng giao kết bằng lời nói rồi sau đó lập văn bản.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giao kết hợp đồng

Chương 3 tổng kết tình hình thi hành BLDS năm 2015 và đề xuất các nhóm giải pháp lập pháp, áp dụng pháp luật.

  • Thực tiễn áp dụng: Sau hơn 7 năm thi hành, BLDS 2015 đã thể chế hóa thành công các Nghị quyết của Đảng (Nghị quyết Đại hội XI, Nghị quyết số 48-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW) và Hiến pháp 2013, tạo lập môi trường pháp lý thông thoáng, bảo đảm quyền tự do giao kết hợp đồng. Bộ Tư pháp, TANDTC, VKSNDTC đã triển khai công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, góp phần giải quyết nhiều vụ việc tranh chấp hợp đồng trong thực tiễn.
  • Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:
    • Hoàn thiện quy định về đề nghị giao kết: Bổ sung tiêu chí giải thích mức độ xác định của ý chí đề nghị; hướng dẫn cụ thể về giá trị pháp lý của đề nghị bằng văn bản (chữ ký, điểm chỉ, con dấu) và đề nghị điện tử; sửa đổi Điều 391 theo hướng mở, không liệt kê đóng các trường hợp chấm dứt đề nghị.
    • Hoàn thiện quy định về chấp nhận đề nghị: Ban hành hướng dẫn xác định "thời hạn hợp lý" theo Điều 394; bổ sung quy định công nhận sự im lặng là chấp nhận nếu phù hợp với "tập quán" thương mại tương thích với CISG/PICC; bổ sung cơ chế xử lý trường hợp chấp nhận bằng hành vi thực tế.
    • Hoàn thiện quy định về thời điểm giao kết: Sửa đổi Điều 400 BLDS 2015 để thống nhất giữa nguyên tắc tiếp nhận thông báo chấp nhận và thời điểm ký văn bản, loại bỏ sự xung đột giữa Khoản 1 và Khoản 4.
  • Kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng: Tăng cường công tác tập huấn, hướng dẫn thống nhất nghiệp vụ xét xử cho Tòa án các cấp; nâng cao nhận thức pháp lý của các chủ thể tham gia giao dịch dân sự và kinh doanh thương mại; hoàn thiện các thiết chế bổ trợ tư pháp (công chứng, luật sư).

Kết quả và đóng góp nghiên cứu

Kết quả chính:

  • Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện các căn cứ lý luận về giao kết hợp đồng từ góc độ bản chất pháp lý, nguyên tắc cơ bản và trình tự giao kết hai giai đoạn (đề nghị - chấp nhận).
  • Làm rõ các điểm mới của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005 (khái niệm hợp đồng mở rộng tại Điều 385; bỏ từ "cụ thể" và mở rộng đề nghị tới công chúng tại Điều 386; luật hóa nghĩa vụ tiền hợp đồng tại Điều 387; quy định về hợp đồng bằng lời nói lập lại bằng văn bản tại Khoản 3 Điều 400).
  • Phân tích và chỉ ra 07 nhóm bất cập, mâu thuẫn kỹ thuật lập pháp trong BLDS năm 2015 (tiêu chí ý chí đề nghị, giá trị pháp lý đề nghị văn bản/điện tử, kỹ thuật liệt kê đóng tại Điều 391, tiêu chí thời hạn hợp lý tại Điều 394, thiếu vắng ngoại lệ tập quán tại Điều 393, hành vi chấp nhận thiếu thông báo, và sự mâu thuẫn giữa Khoản 1 và Khoản 4 Điều 400).

Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:

  • Nhóm kiến nghị hoàn thiện chế định đề nghị giao kết hợp đồng.
  • Nhóm kiến nghị hoàn thiện chế định chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
  • Nhóm kiến nghị xử lý mâu thuẫn điều khoản về thời điểm giao kết hợp đồng.
  • Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả phổ biến, hướng dẫn và thi hành pháp luật trên thực tế.

Đóng góp so với các công trình trước:

  • Khóa luận tiếp cận vấn đề giao kết hợp đồng trong bối cảnh các phương thức giao dịch hiện đại phát triển (Luật Giao dịch điện tử 2023).
  • So sánh đối chiếu có chiều sâu giữa quy định của pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực pháp lý quốc tế (CISG 1980, PICC 1994) và pháp luật của các quốc gia thuộc cả hai hệ thống Common Law và Civil Law (Mỹ, Anh, Đức, Trung Quốc).

Hạn chế và hướng phát triển của đề tài

  • Hạn chế: Do giới hạn về mặt thời gian và phạm vi của một khóa luận tốt nghiệp đại học, đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu dưới góc độ phân tích quy phạm pháp luật thực định (BLDS 2015 và các luật liên quan); việc phân tích số liệu thống kê thực tiễn xét xử tranh chấp và các vụ án thực tế tại Tòa án các cấp còn hạn chế.
  • Hướng phát triển:
    • Mở rộng nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua phân tích hệ thống bản án, án lệ của Tòa án nhân dân và phán quyết của Trọng tài thương mại về tranh chấp giai đoạn giao kết hợp đồng.
    • Nghiên cứu chuyên sâu về các phương thức giao kết hợp đồng phi truyền thống trong kỷ nguyên số, như hợp đồng thông minh (smart contract), giao dịch tự động hóa qua hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (blockchain).

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng hưởng lợi:
    • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Kinh tế, Luật Thương mại quốc tế cần tài liệu nghiên cứu chuyên khảo về chế định hợp đồng.
    • Luật sư, chuyên viên pháp chế doanh nghiệp, công chứng viên và thẩm phán cần tài liệu tham khảo để nhận diện các rủi ro pháp lý và giải quyết xung đột điều khoản trong quá trình soạn thảo, đàm phán, chứng nhận và xét xử tranh chấp hợp đồng.
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất:
    • Mục 1.2 Chương 1: Phần so sánh kinh nghiệm pháp luật quốc tế (Common Law và Civil Law) với các dẫn chứng án lệ và điều luật cụ thể.
    • Mục 2.2 Chương 2: Phần phân tích chi tiết các bất cập, mâu thuẫn kỹ thuật lập pháp tại các Điều 386, 391, 393, 394, 400 của BLDS năm 2015.

Câu hỏi thường gặp

1. Việc BLDS năm 2015 lược bỏ từ "dân sự" trong khái niệm hợp đồng (Điều 385) so với BLDS năm 2005 (Điều 388) mang ý nghĩa pháp lý gì? Việc lược bỏ từ "dân sự" giúp khái niệm hợp đồng mang tính bao quát và rộng hơn, khắc phục sự phân biệt máy móc giữa hợp đồng dân sự với hợp đồng kinh tế hay hợp đồng thương mại; đồng thời khẳng định rõ vai trò của BLDS là luật chung điều chỉnh mọi quan hệ hợp đồng trong đời sống xã hội.

2. Tại sao tác giả cho rằng việc liệt kê các trường hợp chấm dứt đề nghị giao kết tại Điều 391 BLDS năm 2015 là chưa hợp lý? Điều 391 sử dụng kỹ thuật "liệt kê đóng", dẫn đến việc chỉ những trường hợp được nêu tên mới làm chấm dứt đề nghị. Kỹ thuật này dễ bỏ sót các trường hợp phát sinh trên thực tế (như từ chối ngầm định hoặc từ chối kèm theo điều kiện mới), khiến bên đề nghị vẫn có thể bị ràng buộc vô lý dù trên thực tế đề nghị đã hết hiệu lực.

3. Quy định về "sự im lặng" trong chấp nhận đề nghị tại BLDS năm 2015 khác biệt như thế nào so với CISG 1980 và PICC 1994? Khoản 2 Điều 393 BLDS năm 2015 chỉ công nhận sự im lặng là chấp nhận khi "có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên". Trong khi đó, CISG và PICC còn thừa nhận thêm trường hợp sự im lặng được coi là chấp nhận nếu phù hợp với "tập quán" (tập quán địa phương, quốc gia hoặc toàn cầu) mà các bên đã biết hoặc phải biết.

4. Mâu thuẫn kỹ thuật lập pháp giữa Khoản 1 và Khoản 4 Điều 400 BLDS năm 2015 về thời điểm giao kết hợp đồng là gì? Khoản 1 quy định hợp đồng được giao kết tại thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết (nguyên tắc tiếp nhận), trong khi Khoản 4 lại quy định hợp đồng bằng văn bản được giao kết tại thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản. Trên thực tế, thời điểm bên sau cùng ký và thời điểm bên đề nghị nhận được văn bản có chữ ký đó thường không trùng nhau.

5. Nghĩa vụ cung cấp và bảo mật thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng được BLDS năm 2015 quy định ra sao? Theo Điều 387 BLDS năm 2015, bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết của bên kia phải thông báo cho bên kia biết; bên nhận được thông tin bí mật có trách nhiệm bảo mật và không được sử dụng cho mục đích riêng hoặc mục đích trái pháp luật. Bên nào vi phạm một trong hai nghĩa vụ này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Phương Linh là công trình nghiên cứu hệ thống, nghiêm túc về chế định giao kết hợp đồng theo pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành. Tác giả đã làm rõ các vấn đề lý luận cốt lõi, so sánh đối chiếu sâu sắc với pháp luật quốc tế, đồng thời chỉ ra chính xác các bất cập, mâu thuẫn kỹ thuật lập pháp trong BLDS năm 2015. Các kiến nghị sửa đổi quy định về đề nghị, chấp nhận đề nghị và thời điểm giao kết hợp đồng có giá trị khoa học và giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.