Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG GIA CÔNG MAY MẶC 1. Hợp đồng gia công may mặc Hoạt động gia công mang lại hiệu quả kinh tế không cao song đem lại hiệu quả về mặt xã hội, đó là giải quyết việc làm cho người lao động, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập cho người dân. Bên cạnh đó, hoạt động gia công còn có vai trò rất lớn đối với các doanh nghiệp trong việc học hỏi kinh nghiệm quản lý, sản xuất tiên tiến của các nước phát triển, tăng cường khả năng quản lý doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn [17].
Những nước có nguồn lực về tài chính và trình độ khoa học công nghệ cao thường dễ dàng thu hút đầu tư cho việc phát triển các ngành sản xuất công nghệ cao, trong khi đó các nước đang phát triển với nguồn lao động dồi dào và rẻ có lợi thế trong việc thu hút đầu tư cho các hoạt động gia công, lắp ráp. Việt Nam, với nguồn lao động dồi dào và rẻ, đã thu hút được khá nhiều nhà đầu tư tham gia vào lĩnh vực này trong thời gian gần đây [17]. Vì thế, hoạt động gia công, lắp ráp hàng hóa của Việt Nam cũng diễn ra khá sôi động và ngày càng phát triển, đặc biệt là trong lĩnh vực gia công may mặc. Khái niệm hợp đồng gia công may mặc HĐGC có thể hiểu là công cụ để phản ánh mong muốn của bên đặt gia công và bên nhận gia công trong việc thiết lập mối quan hệ pháp lý giữa hai bên.
Mối quan hệ này hết sức phổ biến trong đời sống xã hội hiện nay, đồng thời thuật ngữ “gia công” cũng được sử dụng nhiều trong thực tế. Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật điều chỉnh đối với HĐGC trong đời sống dân sự là BLDS các năm 1995, 2005, 2015 và cũng như các văn bản hướng dẫn thực hiện BLDS đều không đề cập đến khái niệm “gia công”. Vì thế, khái niệm 7 Luan van “gia công” trong quan hệ dân sự phải hiểu thông qua khái niệm gia công trong hoạt động thương mại, từ đó xác định được các đặc trưng và bản chất của hoạt động này. Theo LTM năm 1997, gia công là hành vi thương mại, theo đó bên nhận gia công thực hiện việc gia công hàng hóa theo yêu cầu, bằng nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để hưởng tiền gia công; bên đặt gia công nhận hàng hoá đã gia công để kinh doanh thương mại và phải trả tiền phí gia công cho bên nhận gia công.
Đến LTM năm 2005, khái niệm này đã được đưa ra ngắn gọn hơn cụ thể: Gia công trong thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thù lao gọi là phí gia công. Từ các quy định trên đây có thể hiểu rằng gia công là việc mà một bên (gọi là bên nhận gia công) nhận nguyên vật liệu của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để thực hiện những hành vi cụ thể theo yêu cầu và chỉ dẫn của bên đặt gia công đồng thời được nhận thù lao tương ứng gọi là phí gia công. Tuy nhiên, BLDS Việt Nam các năm 1995, 2005 hay 2015 đều không đưa ra khái niệm “gia công” mà chỉ đưa ra khái niệm “HĐGC”. HĐGC là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên nhận gia công thực hiện công việc để tạo ra sản phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công, bên đặt gia công nhận sản phẩm và trả tiền công.
Bên cạnh yếu tố thỏa thuận thống nhất ý chí giữa các bên, khái niệm này nhấn mạnh đến yếu tố chủ thể, đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của các chủ thể. Chủ thể bao gồm bên đặt gia công và bên nhận gia công. Bên đặt gia công là bên mong muốn thu được các sản phẩm theo những yêu cầu riêng của mình, họ có thể cung cấp một phần hoặc toàn bộ nguyên vật liệu và sẵn sàng trả tiền để nhận được sản phẩm đó. Bên nhận gia công là bên có trình độ, kỹ năng để tạo ra những sản phẩm theo yêu cầu của bên gia công để từ đó được nhận tiền công.
Kết quả của quá trình gia công là sản phẩm vật 8 Luan van chất hữu hình, vật được xác định theo mẫu. Trong dân sự, sản phẩm này thường có hình thái tồn tại hoàn chỉnh nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nào đó của người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong kinh doanh thương mại, có nhiều khi hoạt động gia công có thể được tách thành nhiều khâu liên tiếp, hình thành hệ thống gia công phân đoạn; do đó sản phẩm gia công của một phân đoạn có thể chưa hoàn chỉnh mà mới chỉ đáp ứng được những yêu cầu nhất định cũng được coi là hoàn thành. Mặc dù không có một khái niệm cụ thể nào cho “HĐGCMM” nhưng có thể hiểu rằng: HĐGCMM là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên nhận gia công thực hiện công việc để tạo ra sản phẩm là quần, áo, mũ, găng tay các loại theo yêu cầu của bên đặt gia công, bên đặt gia công nhận sản phẩm và trả tiền công.
Bên đặt gia công sẽ giao cho bên nhận gia công các nguyên liệu may mặc như vải, da, lông thú các loại; phụ liệu như chỉ, cúc, khuy kéo, dây chun, trang trí…; công cụ dụng cụ để thực hiện như máy may, bàn là, máy dập, ép… và các tài liệu, sơ đồ, giác mẫu để giúp bên nhận gia công thực hiện được sản phẩm theo đúng yêu cầu về kiểu dáng, chất lượng, quy cách do bên đặt gia công đề ra. Khi hoàn thành và giao sản phẩm gia công thì bên nhận gia công sẽ nhận được tiền phí gia công từ phía bên đặt gia công theo thỏa thuận của hợp đồng. Đặc điểm của hợp đồng gia công may mặc HĐGCMM có những đặc điểm tương tự như các hợp đồng dân sự. Bởi vậy, HĐGC cũng có những đặc điểm chính sau: - Là hợp đồng song vụ: Cả hai chủ thể - bên đặt gia công và bên nhận gia công đều có những quyền và nghĩa vụ được xác định theo hợp đồng, trong đó quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại.
- Là hợp đồng ưng thuận: HĐGCMM có hiệu lực ngay từ thời điểm các bên đã thỏa thuận xong các điều khoản cơ bản của hợp đồng. HĐGC không bao giờ có thể được thực hiện và chấm dứt ngay tại thời điểm giao 9 Luan van kết, mà luôn đòi hỏi một khoảng thời gian đủ để bên nhận gia công có thể thực hiện được việc gia công của mình. Nếu các bên không có thỏa thuận cụ thể hơn thì thời hạn được tính là khoảng thời gian hợp lý để thực hiện việc gia công đó. - Là hợp đồng có đền bù: Bên đặt gia công có nghĩa vụ thanh toán tiền công cho bên nhận gia công theo thỏa thuận trong hợp đồng.
Việc không có thỏa thuận không được hiểu là không có đền bù. Bên cạnh việc mang đầy đủ những đặc điểm chung của hợp đồng thông thường, với ý nghĩa là một loại hợp đồng dân sự và thương mại thông dụng, HĐGCMM cũng có những đặc điểm riêng: Về mặt bản chất của HĐGCMM Về mặt bản chất, HĐGCMM không phải là hợp đồng mua bán hàng hóa. Mặc dù trong quá trình thực hiện hợp đồng cũng có thể xảy ra trao đổi sản phẩm, nguyên vật liệu cấu thành nhưng đó không phải là giao dịch cốt lõi của HĐGCMM. Việc bên đặt gia công nhận sản phẩm sau quá trình gia công cũng không được coi là giao dịch mua bán khi sản phẩm chuyển giao không phải hoàn toàn là sở hữu của bên nhận gia công.
Quyền sở hữu sản phẩm gia công của mỗi bên được quyết định tùy vào mức độ đóng góp nguyên vật liệu cấu thành và giá trị gia tăng trong sản phẩm được làm ra, từ đó quyết định được chi phí gia công là cao hay là thấp. Nếu như bên nhận gia công đóng góp càng nhiều nguyên vật liệu và thực hiện nhiều hoạt động hơn để tạo ra nhiều giá trị gia tăng của sản phẩm thì phí gia công sẽ càng cao và ngược lại. Thông thường, phí gia công được chi trả chủ yếu cho việc bên nhận gia công thực hiện những hoạt động cụ thể theo chỉ dẫn, yêu cầu của bên đặt gia công từ đó làm gia tăng giá trị của sản phẩm; do đó về mặt bản chất, hoạt động gia công gần với hoạt động cung ứng dịch vụ. Về tính chất của HĐGCMM HĐGCMM có bản chất là hợp đồng song vụ và có đền bù.
Tính song vụ được thể hiện rõ ràng trong việc phân chia quyền và nghĩa vụ giữa bên đặt gia 10 Luan van công và bên nhận gia công. Mỗi bên chủ thể đều vừa có quyền lại vừa có nghĩa vụ dân sự đối ứng. Tuy nhiên, quyền và nghĩa vụ đối ứng của các chủ thể trong HĐGCMM cũng có những điểm khác biệt so với các loại hợp đồng khác. Cụ thể, bên nhận gia công vừa có thể có quyền yêu cầu bên đặt gia công phải chuyển cho mình các nguyên vật liệu đạt tiêu chuẩn về số lượng, chất lượng, chủng loại, tính đồng bộ, vừa có thể có nghĩa vụ cung cấp nguyên vật liệu phù hợp.
Ngược lại, bên đặt gia công vừa có thể có nghĩa vụ cung cấp nguyên vật liệu, vừa có thể có quyền yêu cầu bên nhận gia công cung cấp nguyên vật liệu cần thiết cho quá trình gia công. Cả quyền và nghĩa vụ của các bên đối với việc cung cấp nguyên vật liệu phụ thuộc vào mức độ đóng góp của các bên theo hợp đồng quy định. Bên nhận gia công có nghĩa vụ bàn giao sản phẩm đã hoàn thành cho bên đặt gia công, bên đặt gia công có nghĩa vụ thanh toán chi phí cần thiết cho bên nhận gia công nhưng không phải là thanh toán cho toàn bộ giá trị sản phẩm hoàn chỉnh mà chỉ thanh toán chi phí cho phần nguyên vật liệu mà bên nhận gia công cung cấp và chi phí cho chuỗi hành vi tạo ra giá trị gia tăng kết tinh trong sản phẩm cuối cùng. Vì vậy, phí gia công không phải là giá thành sản phẩm mà chỉ là một phần trong trong đó.
Về tính đền bù, bên đặt gia công phải trả một khoản tiền công cho bên nhận gia công khi họ làm ra một sản phẩm đạt yêu cầu.