Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quan hệ hôn nhân tan vỡ kéo theo nhiều hệ lụy pháp lý phức tạp, trong đó việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng mất khả năng lao động là vấn đề xã hội - pháp lý cấp thiết. Theo quy định của pháp luật, cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn là nghĩa vụ bắt buộc của bên không trực tiếp nuôi con nhằm bù đắp những thiếu thốn về vật chất và điều kiện sống. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy số vụ việc ly hôn và tranh chấp nghĩa vụ cấp dưỡng ngày càng gia tăng, trong khi tình trạng trốn tránh, trì hoãn hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng diễn ra phổ biến. Thực trạng này bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ, cụ thể trong một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cũng như những vướng mắc trong khâu tổ chức thực thi. Về mặt lý luận, các công trình trước đây đa phần chỉ tiếp cận nghĩa vụ cấp dưỡng cho con như một phần nhỏ trong hậu quả pháp lý của ly hôn hoặc trong chế định cấp dưỡng nói chung, chưa có nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và độc lập dưới góc độ thực tiễn áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Khóa luận tốt nghiệp "Cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014" do sinh viên Mai Đức Anh Tú (Mã sinh viên: 453537) thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2024, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thị Lan, tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:

  • Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn; trên cơ sở đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành đồng bộ, thống nhất.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn theo phạm vi đề tài.
    2. Phân tích, đánh giá ưu điểm và hạn chế của các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh quan hệ cấp dưỡng cho con khi ly hôn.
    3. Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua công tác xét xử tại Tòa án nhân dân các cấp, từ đó chỉ ra vướng mắc, tồn tại và kiến nghị giải pháp hoàn thiện.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống các quy định pháp luật thực định của Việt Nam về cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn và thực tiễn áp dụng các quy định này thông qua các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Tập trung vào quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và các văn bản liên quan điều chỉnh quan hệ cấp dưỡng giữa cha mẹ và con sau ly hôn; không nghiên cứu cấp dưỡng giữa vợ và chồng, không nghiên cứu quan hệ cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài và không đi sâu vào thủ tục thi hành án dân sự chuyên biệt.
    • Về thời gian: Khảo sát thực tiễn xét xử từ khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có hiệu lực thi hành (ngày 01/01/2015) đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu (năm 2024), trọng tâm là số liệu thống kê giai đoạn 2018–2023.
    • Về không gian: Hoạt động xét xử của hệ thống Tòa án nhân dân trên phạm vi cả nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung pháp lý và cơ sở lý luận

Đề tài được xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật. Về mặt lập pháp thực định, tác giả vận dụng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đa tầng:

  • Hiến pháp năm 2013 (kế thừa các quy định bình đẳng giới và gia đình từ Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992).
  • Luật Hôn nhân và Gia đình qua các thời kỳ: năm 1959, năm 1986, năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010) và trọng tâm là Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (các Điều 3, 82, 83, 107, 110, 114, 116, 117, 118).
  • Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 26 về xác định cha mẹ con).
  • Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Điều 186 về tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng).
  • Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Điều 78 về trừ vào thu nhập của người phải thi hành án).
  • Các văn bản quy định xử phạt vi phạm hành chính và hướng dẫn chi tiết: Nghị định số 70/2001/NĐ-CP, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP và Nghị định số 144/2021/NĐ-CP.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng hệ thống phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Xem xét sự phát triển của chế định cấp dưỡng trong sự gắn kết chặt chẽ với điều kiện kinh tế - xã hội qua từng giai đoạn lịch sử.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ các điều luật, quy phạm pháp luật thực định và tổng hợp các luận điểm khoa học về bản chất của nghĩa vụ cấp dưỡng.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy định về cấp dưỡng giữa các thời kỳ lập pháp (1959, 1986, 2000, 2014) và giữa pháp luật truyền thống phong kiến với pháp luật hiện đại.
  • Phương pháp thống kê, khảo sát thực tiễn: Thu thập, phân loại và phân tích số liệu xét xử án hôn nhân gia đình từ Tòa án nhân dân tối cao và các bản án thực tế được công bố.

Nguồn dữ liệu

Dữ liệu của khóa luận bao gồm:

  • Báo cáo thống kê công tác xét xử của Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2018–2023 (tổng số 651.464 vụ án hôn nhân gia đình).
  • Kho dữ liệu 320 bản án, quyết định tranh chấp về mức cấp dưỡng được công bố trên Cổng thông tin điện tử Công bố bản án của Tòa án nhân dân tối cao (congbobanan.toaan.gov.vn).
  • Các bản án sơ thẩm và phúc thẩm cụ thể tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị (Sóc Trăng), Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải (Trà Vinh), Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy (Hà Nội).
  • Kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu tiền bối của TS. Ngô Thị Hường (2006), ThS. Hoàng Viết Thái (2013), ThS. Nguyễn Thị Thúy An (2017), cùng giáo trình và bình luận khoa học của GS.TS. Nguyễn Ngọc Điện, TS. Tưởng Duy Lượng, TS. Đinh Thị Mai Phương, PGS.TS. Nguyễn Văn Cừ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn

Chương 1 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm, phân tích đặc điểm pháp lý, ý nghĩa xã hội và phác họa tiến trình lịch sử của chế định cấp dưỡng cho con:

  • Khái niệm và đặc trưng pháp lý: Căn cứ khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn được xác định là nghĩa vụ tài sản gắn liền với nhân thân bắt buộc của bên không trực tiếp nuôi con đối với con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Quan hệ này mang tính chất có đi có lại nhưng không đồng thời, không có tính đền bù tương đương, không thể chuyển giao hoặc thay thế bằng nghĩa vụ khác.
  • Cơ sở phát sinh: Phát sinh chủ yếu từ quan hệ huyết thống trực hệ hoặc quan hệ nuôi dưỡng hợp pháp (con nuôi). Nghĩa vụ chỉ đặt ra khi người có nghĩa vụ và người được hưởng không sống chung (không có quỹ tiêu dùng chung) hoặc khi sống chung nhưng có hành vi trốn tránh trách nhiệm nuôi dưỡng (Điều 110).
  • Ý nghĩa: Bảo đảm điều kiện sống tối thiểu và sự phát triển toàn diện của trẻ em; khắc phục tổn thất tâm lý sau ly hôn; thể hiện trách nhiệm của cha mẹ và hiện thực hóa chính sách an sinh xã hội của Nhà nước.
  • Lược sử quy định pháp luật qua các thời kỳ:
Giai đoạn lịch sử Văn bản điều chỉnh tiêu biểu Đặc điểm quy định về cấp dưỡng cho con
Thời kỳ phong kiến Bộ luật Hồng Đức (Điều 161), Bộ luật Gia Long 1815 (Điều 82, 109) Đề cao chữ hiếu và phụng dưỡng cha mẹ; không quy định cấp dưỡng ly hôn riêng biệt vì con mặc nhiên ở với cha, tài sản người mẹ sáp nhập vào khối tài sản của cha để nuôi con.
Thời kỳ Pháp thuộc Dân luật giản yếu Nam Kỳ 1883, Dân luật Bắc Kỳ 1931, Dân luật Trung Kỳ 1936 Điều 182 Dân luật Bắc Kỳ và Điều 180 Dân luật Trung Kỳ lần đầu ghi nhận nghĩa vụ cấp dưỡng của người cha đối với con ngoài giá thú đến 18 tuổi; Điều 193 quy định cấp dưỡng đối với con nuôi.
Giai đoạn 1945–1975 Sắc lệnh 97/SL (1950), Sắc lệnh 159/SL (1950), Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 Điều 6 Sắc lệnh 159/SL và Điều 32, 33 Luật HN&GĐ 1959 quy định hai bên cùng chịu "phí tổn về việc nuôi dạy con" tùy theo khả năng; con còn bú về nguyên tắc giao mẹ nuôi.
Giai đoạn 1975–2000 Hiến pháp 1980, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 Các Điều 19, 20, 21, 26, 45 quy định trách nhiệm đóng góp "phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con"; chưa tách bạch rõ thuật ngữ pháp lý "cấp dưỡng".
Giai đoạn 2000–2014 Hiến pháp 1992, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 Lần đầu tiên dành riêng một chương quy định có hệ thống về chế định cấp dưỡng (khoản 11 Điều 8, Điều 56, 92); mở rộng chủ thể được cấp dưỡng sang con đã thành niên mất khả năng lao động.
Giai đoạn 2014–nay Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Tách bạch quyền và nghĩa vụ giữa người trực tiếp nuôi con và không trực tiếp nuôi con (Điều 82, 83); bổ sung trường hợp cấp dưỡng khi sống chung nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng (Điều 110).

Chương 2: Quy định pháp luật về cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn

Chương 2 đi sâu phân tích toàn diện các quy phạm pháp luật thực định hiện hành về các yếu tố cấu thành quan hệ cấp dưỡng:

  • Điều kiện phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng:
    1. Tồn tại quan hệ huyết thống trực hệ (xác định theo Điều 26 BLDS 2015) hoặc quan hệ nuôi con nuôi hợp pháp (theo Luật Nuôi con nuôi).
    2. Cha mẹ và con không sống chung (không duy trì quỹ tiêu dùng chung) hoặc sống chung nhưng cha/mẹ vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng (Điều 110).
    3. Chủ thể được cấp dưỡng phải là con chưa thành niên, hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
    4. Người có nghĩa vụ phải có khả năng cấp dưỡng thực tế (có thu nhập thường xuyên ổn định hoặc có tài sản sau khi trừ các chi phí sinh hoạt thiết yếu của bản thân).
  • Mức cấp dưỡng và phương thức thực hiện:
    • Căn cứ Điều 116, mức cấp dưỡng được xác định dựa trên hai yếu tố: khả năng thực tế của người cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng (ăn, mặc, ở, học tập, chữa bệnh theo khoản 20 Điều 3).
    • Ưu tiên nguyên tắc tự do thỏa thuận giữa các bên; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án ấn định. Mức cấp dưỡng có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.
  • Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ:
    • Biện pháp trừ vào thu nhập: Điều 78 Luật Thi hành án dân sự 2008 sửa đổi 2014 quy định Chấp hành viên có quyền ra quyết định khấu trừ trực tiếp vào tiền lương, tiền công, lương hưu, trợ cấp của người phải thi hành án với mức tối đa 30% tổng thu nhập hàng tháng.
    • Chế tài xử phạt vi phạm hành chính: Điểm b khoản 1 Điều 57 Nghị định 144/2021/NĐ-CP (xử phạt hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng); điểm c khoản 4 Điều 64 Nghị định 82/2020/NĐ-CP (phạt tiền đối với hành vi không chấp hành quyết định trừ vào thu nhập của cơ quan thi hành án).
    • Chế tài xử lý hình sự: Điều 186 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi 2017 quy định phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm đối với người có khả năng thực tế nhưng cố ý trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm.
  • Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 118):
    1. Người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.
    2. Người được cấp dưỡng được người khác nhận làm con nuôi hợp pháp.
    3. Người có nghĩa vụ cấp dưỡng đã trực tiếp nuôi dưỡng người được cấp dưỡng.
    4. Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn

Chương 3 phân tích số liệu thực tế, chỉ ra các xung đột pháp lý qua các bản án và đề xuất giải pháp:

  • Thực trạng xét xử: Báo cáo tổng kết của TANDTC giai đoạn 2018–2023 ghi nhận toàn hệ thống Tòa án đã thụ lý, giải quyết 651.464 vụ án hôn nhân và gia đình (án sơ thẩm chiếm 98,7%, án phúc thẩm chiếm 1,2%). Các tranh chấp về cấp dưỡng phần lớn được giải quyết kèm trong vụ án ly hôn, trong đó tranh chấp về thay đổi mức cấp dưỡng chiếm tỷ trọng lớn nhất (chiếm phần lớn trong 320 bản án/quyết định được công bố).

  • Các tồn tại, vướng mắc pháp lý điển hình:

    1. Tiêu chí "không có khả năng lao động" của con đã thành niên: Pháp luật chưa có định lượng cụ thể. Thực tiễn Tòa án chỉ áp dụng cho người khuyết tật nặng, bại não (như Bản án 01/2019/HNGĐ-PT của TAND tỉnh Bình Thuận buộc ông Nguyễn Viết D cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng suốt đời cho con Nguyễn Kim Q bị bại não bẩm sinh). Tác giả phân tích và đồng thuận với quan điểm Tòa án không xem học sinh, sinh viên trên 18 tuổi là đối tượng mất khả năng lao động, bởi nhóm này có đủ thể lực, có thể vừa học vừa làm và được hưởng chính sách tín dụng học sinh sinh viên tối đa 4.000.000 đồng/tháng.
    2. Tiêu chí "có tài sản để tự nuôi mình": Luật chưa quy định ngưỡng tài sản tối thiểu để làm căn cứ chấm dứt hoặc bác yêu cầu cấp dưỡng đối với con đã thành niên.
    3. Thiếu định lượng xác định "mức cấp dưỡng tối thiểu" và "nhu cầu thiết yếu": Nghị định 70/2001/NĐ-CP hết hiệu lực nhưng Nghị định 126/2014/NĐ-CP không có hướng dẫn thay thế. Mức cấp dưỡng do Tòa án tuyên có sự chênh lệch lớn giữa các vùng miền:
      • Bản án 05/2022/HNGĐ-ST của TAND huyện Thạnh Trị (Sóc Trăng) tuyên buộc ông Danh Vũ S cấp dưỡng 1.000.000 đồng/tháng/cháu cho 2 con chung.
      • Bản án 02/2022/HNGĐ-PT của TAND tỉnh Lạng Sơn (không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Vy Thị H và anh Vũ Chí V) tuyên buộc anh V cấp dưỡng 5.000.000 đồng/tháng cho con chung.
      • Bản án 04/2021/HNGĐ-ST của TAND thị xã Duyên Hải (Trà Vinh) ghi nhận mức cấp dưỡng 500.000 đồng/tháng của người cha là quá thấp, không bảo đảm nhu cầu sinh hoạt thực tế trên 3.000.000 đồng/tháng của con.
    4. Không thống nhất về thời điểm bắt đầu phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng: Do Luật chỉ quy định thời điểm chấm dứt (Điều 118) mà không quy định thời điểm bắt đầu, các Tòa án áp dụng tùy nghi: có Tòa tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, có Tòa tính từ ngày xét xử sơ thẩm (Bản án 01/2022/HNGĐ-ST của TAND TP Sóc Trăng tính từ ngày xét xử sơ thẩm buộc ông Lưu Tấn N cấp dưỡng 1.000.000 đồng/tháng), có Tòa tính từ thời điểm thụ lý hoặc thời điểm cha mẹ bắt đầu sống ly thân không đóng góp nuôi con.
    5. Vướng mắc thi hành án: Biện pháp trừ thu nhập (Điều 78 Luật THADS) gặp khó khăn do doanh nghiệp sử dụng lao động thiếu hợp tác hoặc người phải thi hành án làm việc tự do, không có bảng lương cố định.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  • Tổng hợp bức tranh toàn cảnh về thực trạng xét xử quan hệ hôn nhân gia đình tại Việt Nam giai đoạn 2018–2023 với 651.464 vụ việc, chỉ ra sự phân hóa sâu sắc trong mức cấp dưỡng được Tòa án tuyên (dao động từ 500.000 đồng đến 5.000.000 - 10.000.000 đồng/tháng tùy hoàn cảnh và địa bàn).
  • Làm rõ sự thiếu hụt các văn bản hướng dẫn dưới luật của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 kể từ khi Nghị định số 70/2001/NĐ-CP hết hiệu lực, dẫn đến tình trạng áp dụng tùy nghi các tiêu chí "nhu cầu thiết yếu", "khả năng thực tế" và "thời điểm bắt đầu tính cấp dưỡng".

Hệ thống giải pháp, kiến nghị của tác giả

Khóa luận đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng:

Lĩnh vực Vướng mắc thực tiễn Kiến nghị / Giải pháp của tác giả
Xác định mức cấp dưỡng Thiếu căn cứ định lượng, Nghị định 126/2014/NĐ-CP không hướng dẫn thay thế Nghị định 70/2001/NĐ-CP. Ban hành văn bản hướng dẫn quy định mức sàn cấp dưỡng tối thiểu (ví dụ: không thấp hơn một tỷ lệ phần trăm mức lương cơ sở hoặc mức lương tối thiểu vùng) và tiêu chí xác định nhu cầu thiết yếu.
Thời điểm phát sinh cấp dưỡng Tòa án áp dụng không đồng nhất (ngày nộp đơn, ngày xử sơ thẩm, hay ngày bản án có hiệu lực). Bổ sung quy định rõ ràng trong văn bản quy phạm pháp luật: thời điểm phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng được tính từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Chủ thể được cấp dưỡng Chưa rõ tiêu chí "không có khả năng lao động" và "tài sản tự nuôi mình" của con đã thành niên. Ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thống nhất: chỉ xem xét con đã thành niên mất khả năng lao động khi có kết luận giám định y khoa/chứng nhận khuyết tật nặng; làm rõ ngưỡng tài sản độc lập.
Bảo đảm thi hành án Khấu trừ lương khó thực hiện do cơ quan chi trả thiếu phối hợp, người cấp dưỡng giấu thu nhập. Tăng cường chế tài đối với tổ chức, người sử dụng lao động không chấp hành quyết định trừ thu nhập; đẩy mạnh phối hợp liên ngành giữa Tòa án, Cơ quan Thi hành án dân sự, Viện kiểm sát và chính quyền cơ sở.

Đóng góp khoa học

So với các công trình nghiên cứu trước đây (thường chỉ phân tích nghĩa vụ cấp dưỡng trong khuôn khổ Luật HN&GĐ năm 2000 hoặc đặt trong tổng thể hậu quả ly hôn nói chung), khóa luận của Mai Đức Anh Tú là công trình chuyên khảo tập trung toàn diện vào nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo Luật HN&GĐ năm 2014, gắn liền với việc phân tích dữ liệu thực chứng từ kho dữ liệu bản án điện tử giai đoạn 2018–2024.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Tác giả chủ động giới hạn phạm vi nghiên cứu ở các quy định thuần túy về mặt nội dung trong quan hệ cấp dưỡng giữa cha mẹ và con là công dân Việt Nam ở trong nước; không nghiên cứu các quan hệ cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài (cha/mẹ hoặc con cư trú tại nước ngoài) và không phân tích sâu quy trình nghiệp vụ thi hành án dân sự chuyên biệt.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu cơ chế công nhận và cho thi hành phán quyết cấp dưỡng cho con có yếu tố nước ngoài theo tư pháp quốc tế.
    • Nghiên cứu tính khả thi của mô hình "Quỹ hỗ trợ cấp dưỡng" do Nhà nước hoặc tổ chức xã hội tạm ứng chi trả khi người có nghĩa vụ cố tình trốn tránh hoặc lâm vào hoàn cảnh bất khả kháng.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng hưởng lợi:
    • Sinh viên, học viên luật học: Làm tài liệu tham khảo chuyên khảo trong học phần Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Dân sự và Kỹ năng xét xử án dân sự.
    • Cán bộ tiến hành tố tụng (Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên): Tham khảo các phân tích án lệ thực tế và phương pháp đánh giá chứng cứ về khả năng tài chính của đương sự khi ấn định mức cấp dưỡng.
    • Luật sư và Chấp hành viên: Vận dụng các căn cứ pháp lý để bảo vệ quyền lợi cho thân chủ và tối ưu hóa việc áp dụng biện pháp khấu trừ thu nhập trong giai đoạn thi hành án.
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống phân tích đối chiếu các bản án thực tiễn tại Chương 3 và các luận cứ pháp lý làm rõ điều kiện cấp dưỡng đối với con đã thành niên tại Chương 2.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo tác giả khóa luận, con đã thành niên đang theo học đại học, cao đẳng có được coi là "không có khả năng lao động" để yêu cầu cha mẹ cấp dưỡng không?

Theo lập luận của tác giả tại Chương 3, học sinh, sinh viên trên 18 tuổi không thuộc diện "không có khả năng lao động". Việc học đại học/cao đẳng là sự lựa chọn cá nhân; người đã thành niên có đầy đủ sức khỏe, trí tuệ để tự sắp xếp thời gian làm việc trang trải cuộc sống và Nhà nước đã có chính sách tín dụng ưu đãi học sinh sinh viên (mức tối đa 4.000.000 đồng/tháng). Do đó, việc Tòa án không buộc cha mẹ cấp dưỡng cho sinh viên đã thành niên là hoàn toàn phù hợp với luật thực định.

2. Pháp luật hiện hành quy định mức khấu trừ tối đa vào thu nhập của người trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng là bao nhiêu?

Căn cứ khoản 2 Điều 78 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014, mức khấu trừ cao nhất vào tiền lương, tiền công, tiền lương hưu hoặc tiền trợ cấp mất sức lao động của người phải thi hành án cấp dưỡng là 30% tổng số tiền được nhận hàng tháng (trừ trường hợp các đương sự có thỏa thuận khác).

3. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc các Tòa án ấn định mức cấp dưỡng rất khác nhau trong thực tế là gì?

Nguyên nhân cốt lõi là do sau khi Nghị định số 70/2001/NĐ-CP hết hiệu lực, các văn bản hiện hành (như Nghị định 126/2014/NĐ-CP) không có hướng dẫn định lượng chi tiết về "nhu cầu thiết yếu" và "mức sàn tối thiểu". Điều này khiến Hội đồng xét xử tại mỗi địa phương phải tự đánh giá dựa trên chi phí sinh hoạt cục bộ và chứng cứ thu nhập do các bên cung cấp, dẫn đến việc mức cấp dưỡng dao động lớn từ 500.000 đồng đến hàng chục triệu đồng mỗi tháng.

4. Vướng mắc về "thời điểm bắt đầu phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng" được khóa luận phản ánh như thế nào?

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chỉ quy định thời điểm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 118) mà không quy định rõ thời điểm bắt đầu. Do đó, các Tòa án áp dụng thiếu thống nhất: một số bản án tính từ ngày xét xử sơ thẩm (như Bản án 01/2022/HNGĐ-ST của TAND TP Sóc Trăng), một số bản án tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, và một số nơi tính từ ngày các bên thực tế ly thân/nộp đơn khởi kiện.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Mai Đức Anh Tú đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, tiến trình lập pháp và các quy định thực định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn. Thông qua việc phân tích dữ liệu xét xử thực tế giai đoạn 2018–2023 và các bản án điển hình, công trình đã chỉ rõ những lỗ hổng pháp lý về tiêu chí định lượng mức cấp dưỡng, thời điểm phát sinh nghĩa vụ và cơ chế bảo đảm thi hành. Các kiến nghị ban hành văn bản hướng dẫn về mức sàn cấp dưỡng tối thiểu và hoàn thiện cơ chế phối hợp cưỡng chế thi hành án có giá trị khoa học và thực tiễn cao, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em khi gia đình tan vỡ.