CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÈ HỢP ĐỒNG VAY GIŨA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁ NHÂN 1. Khái niệm hợp đồng vay giữa ngân hàng thương mại và cá nhân Khái niệm về hợp đồng vay giữa ngân hàng thương mại và khách hàng cá nhân (trong luận văn này sẽ gọi là “hợp đồng tín dụng cá nhân”, trừ những trường hợp nào phải hiểu theo cách khác do ngữ cảnh) không phải một vấn đề pháp lý quá phức tạp. Tuy nhiên, để hiểu rõ tất cả các khía cạnh của vấn đề và đồng thời để đánh giá đúng các vấn đề pháp lý đặt ra, thì nghiên cứu toàn bộ lý thuyết về loại hợp đồng này là một công việc có ý nghĩa to lớn về cả mặt khoa học cũng như mặt thực tiễn. Trên cơ sở nhận thức đó, trong Chương này, các khái niệm cơ bản sẽ được tác giả trình bày lần lượt, qua đó làm rõ những vấn đề mang tính nguyên tắc, nền tảng cốt yếu nhất của chế định hợp đồng tín dụng cá nhân trong pháp luật Việt Nam.
Khái niệm hợp đồng Không thể nghi ngờ gì, hợp đồng là một phần rất quan trọng của đời sống xã hội. Con người sử dụng hợp đồng như là công cụ pháp lý vô cùng hiệu quả để thỏa mãn các mong muốn, nhu cầu của mình thông qua giao dịch với những chủ thể khác. Nhiều luật gia cho ràng thuật ngữ hợp đồng được hình thành từ một thuật ngữ tiếng La-tinh có ý nghĩa là “ràng buộc” [20 tr. 27], được xuất hiện lần đầu tiên ở đế chế La Mã cổ đại.
Các luật gia La Mã đã định nghĩa hợp đồng là căn cứ làm phát sinh, thay đối hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật với hai dấu hiệu đặc trưng không thề thiếu: phải có sự thỏa thuận, tức là có sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể; và phải có mục đích nhất định [21, tr. Các bên tham gia hợp đồng đều phải dựa trên sự tự nguyện, nếu không thì không thề nói rằng đó có sự gặp gỡ và thống nhất về ý chí. Vi thế mà 8 BLDS năm 2015 đã đặt ra một trong những nguyên tăc của giao dịch dân sự là phải dựa trên sự tự do, tự nguyện thỏa thuận [38, Điều 3.2], Các quy định về hợp đồng của BLDS không phải chỉ được áp dụng cho các quan hệ dân sự mà còn được áp dụng chung cho tất cả các quan hệ họp đồng trong các quan hệ kinh doanh, thương mại, lao động, thậm chí là các thỏa thuận trong lĩnh vực hôn nhân gia đình như là thỏa thuận phân chia tài săn. tức là bao trùm lên tất cả các lĩnh vực cụ thể của luật tư.
Trước đây thì thuật ngữ “hợp đồng dân sự” mà BLDS năm 2005 đề cập có gây ra sự lúng túng nhất định về mặt pháp lý, bởi lẽ thuật ngữ này có thế hiếu theo nghĩa rộng như trên, mà cũng có thể hiểu theo nghĩa hẹp là các hợp đồng trong một số quan hệ nhằm đáp ứng nhu cầu của con người trên phương diện sinh hoạt hàng ngày, tiêu dùng [16, tr. Vì thế mà BLDS năm 2015 đã sử dụng thuật ngữ “hợp đồng” (bỏ đi đuôi “dân sự”) để tránh những sự hiểu lầm hoặc rắc rối không đáng có. Cụ thể [38, Điều 385], BLDS năm 2015 đã quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đôi hoặc chẩm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự". Các quyền, nghĩa vụ dân sự này không được pháp luật định nghĩa, tuy nhiên cũng đã được hiểu theo nghĩa rộng một cách phổ biến trong thực tiễn.
Theo quy định trên, một họp đồng có nghĩa là một sự thỏa thuận (sự thống nhất về mặt ý chí) giữa các bên, đem lại một hậu quả pháp lý là sự xác lập, thay đổi hay chấm dứt một quyền, nghĩa vụ dân sự nào đó. Vậy có thể tóm tắt lại như sau: Hợp đồng theo nghĩa pháp lý là một sự thống nhất một cách tự nguyện về mặt ý chí của hai chủ thể; sự thống nhất đó mang lại một hậu quả pháp lý là sự xác lập/thay đổi/chấm dứt một quyền/nghĩa vụ. Trong nội dung của họp đồng có thể hàm chứa các nghĩa vụ có tính chất trao đổi, có qua có lại hoặc các nghĩa vụ độc lập. 9 Hợp đông theo nghĩa hình thức, mặt khác, chỉ là biêu hiện bên ngoài của sự thống nhất đó, mà thường gặp nhất chính là các văn bản ghi nhận nội dung của sự thống nhất.
Đây chỉ là vấn đề về hình thức bên ngoài của hợp đồng, chứ không phải vấn đề nội dung. Khái niệm hợp đồng vay Hợp đồng vay như cách dùng thông thường hiện nay thường được hiểu là hợp đồng vay tiền. Tuy nhiên, nghĩa rộng của thuật ngữ này bao trùm các loại tài sản, và được gọi tên là họp đồng vay tài sản, quy định tại Mục 4 Chương XVI BLDS năm 2015. Định nghĩa được luật đưa ra như sau: Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định [38, Điều 463], Trong thực tế cuộc sống hiện nay, vay tiền vẫn là hoạt động vay nổi bật hơn cả.
Bên cạnh đó, cũng cần phân biệt thuật ngữ “vay” theo nghĩa pháp lý này với thuật ngữ “vay mượn” thông thường mà thường được người dân sử dụng. Nhìn chung, cụm từ “vay mượn” còn bao gồm cả việc “mượn” (đồ vật), tức là việc người này muốn sử dụng tạm thời vật gì của người kia nhưng không chuyến giao quyền sở hữu. Trong khi đó, đổi với hành động “vay” theo nghĩa pháp lý, thì bên vay nhận tài sản từ bên cho vay kèm với quyền sở hữu tài sản đó, và có nghĩa vụ trả lại tài sản đó hoặc một tài sản cùng loại, cùng chất lượng (trong trường hợp vay tiền thì sẽ hiểu mặc định là trả lại cùng một khoăn tiền, việc trả lại khác loại tiền tệ sẽ phải xem xét quy định pháp luật có cho phép không và hai bên thỏa thuận ra sao). Hiểu theo nghĩa chung nhất, vay tài sản là một quan hệ xã hội, quan hệ 10 sử dụng vôn lân nhau giữa chủ thê này với chủ thê khác trên nguyên tăc có hoàn trả.
Mục đích và tính chất của quan hệ vay tài sản do mục đích và tính chất của nền sản xuất trong xã hội quyết định. Sự vận động của quan hệ vay tài sản luôn luôn chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế của phương thức trong xã hội đó. Dưới góc độ pháp lý, sự xuất hiện của quan hệ vay tài sản kéo theo sự ra đời của chế định hợp đồng vay tài sân - đây là phương tiện pháp lý giúp các chù thể thỏa mãn nhu cầu về vốn của mình. Nó là công cụ mà nhờ đó những cam kết vay tài sản được thực hiện và tôn trọng [22], Tóm lại: họp đồng vay là loại hợp đồng mà trong đó bên cho vay chuyển giao quyền sở hữu một tài sản cho bên vay trong một thời hạn; bên vay có nghĩa vụ trả lại tài sản đó (vật cùng loại, cùng chất lượng hoặc tiền) khi hết thời hạn, có thế kèm với một khoản lãi suất, về mặt hình thức, mặc dù không bắt buộc phải xuất hiện nhưng lãi suất vẫn là biểu hiện đặc trưng nhất của hợp đồng vay.
BLDS năm 2015 không định nghĩa lãi suất, nhưng có thể hiểu lãi suất là một khoản tiền được tính thêm trên cơ sở giá trị khoản vay và phải trả cho bên cho vay cùng với tài sản vay. Khái niệm hợp đồng tín dụng cá nhân Hợp đồng tín dụng là dạng hợp đồng vay đặc biệt. Cụ thể, hợp đồng tín dụng thực chất là hợp đồng vay tiền mà bên cho vay là tổ chức tín dụng. “Tín dụng” là một khái niệm để chỉ mối quan hệ giữa người vay và người cho vay.
Thuật ngữ này được sử dụng lần đầu tại Anh năm 1520. Từ “credit” (tín dụng) bắt nguồn từ tiếng La-tinh “credo”, nghĩa là “tôi tin”, hay là “creditum”, nghĩa là một khoán vay nợ. Tín dụng tức là việc vay nợ để phục vụ một mục đích cụ thể nào đó, thông thường là mục đích thương mại như đầu tư kinh doanh. Tuy nhiên, tín dụng cũng có thể phục vụ mục đích phi thương mại, tức là vay tiêu dùng.
Sự khác biệt lớn nhất giữa hợp đồng tín dụng và hợp đồng vay là ở chỗ hợp đồng tín dụng chỉ cho phép vay bằng tiền 11 thay vì các loại tài sản, tức là khá giông với cách hiêu dân gian vê hợp đông vay hiện nay. Sự khác biệt lớn thứ hai là về vấn đề chủ thể cho vay: bên cho vay trong hợp đồng tín dụng phải là các tổ chức tín dụng. về mặt ngữ nghĩa, tại các nước “khoản vay” (loan) và “khoản tín dụng” (credit) hay được phân biệt dựa vào sự khác nhau mang tính kỹ thuật. Cụ thể, một khoản vay thường được hiểu là sự chuyển giao một lần số tiền vay; trong khi một khoăn tín dụng được coi như một lượng tiền mà bên vay có thể lấy từ bên cho vay trong bất kỳ thời điểm nào, miễn là còn trong giới hạn số tiền (hạn mức tín dụng/hạn mức vay) và trong thời hạn mối quan hệ cấp tín dụng giữa hai bên còn tồn tại.
Tại Việt Nam, thuật ngữ tín dụng thường được hiểu là một trong các loại hoạt động cho vay của ngân hàng, được tiêu biếu bởi “thẻ tín dụng”. Hình thức đầu tiên của tín dụng trong lịch sử là tín dụng nặng lãi. Cùng với sự phát triển của nền sãn xuất hàng hóa tiền tệ, tín dụng không ngừng phát triển. Dần dần trong xã hội xuất hiện một tổ chức trung gian có nhiệm vụ huy động vốn nhàn rồi trong xã hội và dùng vốn đó cho các chủ thể khác vay.
Đó chính là các tổ chức tín dụng [49, tr. 7], Loại hình tổ chức tín dụng phổ biến nhất là các ngân hàng. Như vậy, về bản chất hợp đồng tín dụng là họp đồng vay, tuy nhiên sẽ chỉ có một số khác biệt mang tính quy ước dựa trên vấn đề kỳ thuật. Do đó, hai thuật ngữ “hợp đồng vay” và “hợp đồng tín dụng” có thể được sử dụng thay thế nhau trong đa số các trường họp thường thấy trong cuộc sống.