CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE HOP DONG TUONG LAI CO PHIEU cells 1. CO BAN VE CO PHIEU 1. Khai niém Trong nên kinh tế thị trường, các doanh nghiệp có nhiều hình thức tổ chức kinh doanh cơ bản như doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp cổ phần, công ty hợp doanh, công ty liên doanh. Trong các loại hình tổ chức doanh nghiệp thì công ty cổ phân là chủ thể hoạt động quan trọng nhất trên thị trường chứng khoán, là mô hình tổ chức rất phổ biến của các doanh nghiệp lớn ở các nước có nên kinh tế thị trường.
Đặc biệt đây là loại hình công ty phát triển rất mạnh mẽ từ nữa cuối thế kỷ 19 đến nay. Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam công ty cổ phân là doanh nghiệp, trong đó: s* Vốn điểu lệ được chia thành nhiễu phần bằng nhau gọi là cổ phân % Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa s* Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm vé các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp s* Cổ đông có quyển tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác Luật các nước quy định chỉ có công ty cổ phần mới được phát hành cổ phiếu để hình thành vốn điều lệ khi thành lập và được phát hành cổ phiếu mới để tăng vốn. Theo Luật chứng khoán Việt Nam cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành. Do đó, nó được coi như là một tài sản thực sự hay nói cách khác vốn công ty cổ phần được chia ra thành những phân bằng nhau gọi là cổ phiếu.
Trong thực tế, cổ phiếu có thể chia thành nhiều loại khác nhau theo nhiễu tiêu thức khác nhau. Nếu căn cứ vào quyên lợi của cổ đông, cổ phiếu được phân chia thành hai loại: s* Cổ phiếu phổ thông (cổ phiếu thường- common stock): là một loại chứng khoán vốn, không có kỳ hạn, tổn tại cùng với sự tổn tại của công ty, lợi tức cổ phiếu được trả vào cuối năm quyết toán. Người sở hữu cổ phiếu phổ thông gọi là cổ đông thường. * Cổ phiếu ưu đãi (preferred stock) hay còn gọi cổ phiếu đặc quyền là loại cổ phiếu được hưởng những quyền lợi ưu tiên hơn so với cô phiếu thường như: e Được ưu tiên chia lãi cô phần trước loại cổ phiếu thường e_ Được ưu tiên phân chia tài sản còn lại của công ty khi phá sản trước cỗ phiếu thường.
Quyền và lợi ích khi đầu tư vào cổ phiếu thường Khi các nhà đâu tư mua cổ phiếu của công ty cổ phần chính là đang góp vốn cùng công ty hoạt động, là người chủ sở hữu công ty — gọi là cổ đông, họ có quyển và lợi ích khi đâu tư vào cổ phiếu thường như sau: * Quyén bỏ phiếu biểu quyết: cổ đông thường có quyển trong việc kiểm soát công ty thông qua sự lựa chọn Hội đồng quản trị và bỏ phiếu quyết định các chính sách của công ty tại Đại hội đồng cổ đông thường niên. Ngoài cổ đông còn có quyên bỏ phiếu biểu quyết cho các vấn để khác như : ° Phát hành chứng khoán cao cấp hoặc phát hành thêm chứng khoán thường ° Tách, gộp chứng khoán. ° Những thay đổi quan trọng trong việc kinh doanh của công ty. * Quyền mua trước cổ phiếu.
cỗ đông có quyền mua trước sẽ mua những cổ phần mới phát hành để bảo vệ tỷ lệ quyền sở hữu của họ trong công ty. Ngoài ra, nếu cổ đông không thực hiện quyển mua trước (right) của mình thì có thể chuyển nhượng quyển mua trước cho người khác, thời hạn của quyển mua trước thường là ngắn hạn. ** Quyền hưởng cổ tức: khi công ty kinh doanh có lợi nhuận thì cổ đông được quyển nhận một phần hoặc toàn bộ lợi nhuận do công ty tạo ra. Mức chỉ trả cổ tức hoặc giữ lại và hình thức chi trả(bằng tiền, cổ phiếu, tài sản) phụ thuộc vào chính sách cổ tức của công ty mà những chính sách này phải được Đại hội đồng cổ đông thông qua.
s* Các quyền khác : ° Trách nhiệm hữu hạn: Cổ đông chỉ mất khoản vốn đã đầu tư vào cổ phiếu của công ty hay nói cách khác họ không có nghĩa vụ phải trả hết những khoản nợ của công ty khi công ty bị phá sản. ° Giám sát sổ sách công ty: Cổ đông có quyển nhận được danh sách các cổ đông, nhận báo cáo hằng năm và nhiều quyển khác. Quyển giám sát không bao gồm quyển điều tra những dữ liệu chỉ tiết của tài khoản, các biên bản trong các cuộc họp của Ban giám đốc hoặc các hồ sơ tài chính của công ty. ° Bảo vệ công ty: Cổ đông được phép kiện bộ máy quản lý công ty (bao gồm các thành viên Hội đồng quản trị) nếu họ thấy rằng các nhà quản trị đó đã gây ra những hành động có thể gây tai họa cho công ty.
° Quyên đối với tài sản còn lại: Khi công ty phá sản (thanh lý), cổ đông người chủ sở hữu —- có quyển nhận lại tài sản từ công ty. Phần tài sản còn lại mà cổ đông thường có thể nhận được chỉ sau khi tất cả các chứng khoán nợ và chứng khoán khác đã được thanh toán. Nghĩa là cổ đông thường được xếp cuối cùng trong danh sách ưu tiên trong thanh toán khi công ty thanh lý hay bị giải thể, phá sản. ° Hạn chế những hành động trái luật: Cổ đông được phép có những hành động phản ứng lại Hội đồng quản trị công ty để chống lại việc thực hiện những điều không đúng với Điều lệ công ty.
Lợi nhuận và rủi ro khi đầu tư vào cổ phiếu 1. Lợi nhuận đầu tư vào cỗ phiếu Lợi nhuận đâu tư vào cổ phiếu đến từ hai nguồn sau: * Thứ nhất: Cổ tức là một phần trong lợi nhuận của doanh nghiệp dành chia cho cổ đông, được gọi là thu nhập của cổ đông. Trừ trường hợp cổ phiếu ưu đãi, nói chung là cổ phiếu có cỗ tức không cố định. Tuy nhiên mức độ cao thấp của cổ tức cũng như tính chất ổn định tương đối của việc chỉ trả cổ tức giữa các ngành và các công ty trong từng ngành có sự khác nhau.
* Thứ hai: Lãi vốn là khoản chênh lệch giữa giá thu được khi bán cổ phiếu và giá đã mua vào. Lãi vốn cấu thành một phần quan trọng trong tổng lợi tức mà cổ phiếu đem lại cho cổ đông. Chỉ khi cổ phiếu tăng giá thì mới có lãi vốn cho nên nhà đầu tư cần phải quan tâm tới khả năng tăng giá của cổ phiếu. Giữa mức cổ tức và khả năng tăng giá của cổ phiếu không có mối liên hệ cố định.
Có loại cổ phiếu có mức trả cổ tức cao và ổn định nhưng lại kém tiểm năng tăng giá ngược lại cổ phiếu mức trả cổ tức thấp thậm chí không có cổ tức nhưng lại hứa hẹn tiểm năng tăng giá mạnh. Rủi ro đầu tư cổ phiếu Rủi ro của một công cụ tài chính nói chung mà điển hình là cổ phiếu được hiểu là tính chất không chắc chắn trong nguồn lợi tức mà nó mang lại cho người nắm giữ. Cho nên đầu tư vào cổ phiếu có thể gặp rủi ro là thu nhập không ổn định do lợi nhuận của công ty không ổn định hoặc lãi vốn âm. Đối với cổ đông thường còn gặp rủi ro rất lớn trong trường hợp công ty giải thể phá sản thì họ là người ưu tiên sau cùng.
Những nhân tố góp phân tạo nên những thay đổi trong lợi tức cấu thành các yếu tố rủi ro. Có thể chia làm hai loại: s* Rúi ro hệ thống: là phần trong biến đổi tổng thể của lợi nhuận gây ra bởi những yếu tố tác động tới giá cả của tất cả các loại chứng khoán. Những biến đổi về kinh tế, chính trị và xã hội là những nguồn rủi ro hệ thống. Hiệu ứng của chúng là làm cho hầu hết giá của hầu hết các cổ phiếu thường cùng chuyển động theo một hướng.
s* Núi ro phí hệ thống: là phần của tổng rủi ro chỉ xảy ra riêng một hãng hay một ngành. Các yếu tố như năng lực quản lý, những ưu tiên tiêu dùng, các cuộc bãi công gây ra những biến động hệ thống của lợi nhuận trong một công ty. Các yếu tố không hệ thống về cơ bản là độc lập với những yếu tố tác động đến thị trường chứng khoán nói chung vì những yếu tố này tác động đến một công ty nên chúng phải được khảo sát riêng biệt cho từng công ty. HỢP ĐÒNG TƯƠNG LAI CỎ PHIẾU 1.
Sự ra đời của hợp đồng tương lai (HĐTL) Những dấu vết và nguồn gốc của HĐTL đã được tìm thấy ngay từ thời Trung cô tại Châu Âu, đó là mối quan hệ được hình thành giữa thương nhân và nông dân. Vào những năm mắt mùa, người nông dân trữ hàng làm giá cả tăng cao, điều này gây khó khăn cho giới thương nhân. Ngược lại, khi bội thu, giới thương nhân lại dìm giá xuống, gây khó khăn cho người nông dân. Để tránh tình trạng đó, thương nhân và người nông dân đã gặp nhau trước mỗi vụ mùa đề thỏa thuận giá cả trước.
Như vậy, rủi ro về giá của cả hai bên đã được giải quyết. Tuy nhiên, HĐTL đầu tiên trên thế giới ra đời tại thành phố Chicago (Hoa Kỳ). Vào thập niên 40 thế kỷ XIX, Chicago đã trở thành một trung tâm thương mại lớn của Hoa Kỳ. Cũng trong thời gian đó, máy gặt McCormick đã được phát minh, giúp cho năng suất sản xuất lúa mì tại Mỹ tăng lên rất nhanh chóng.
Do đó, những người nông dân trồng lúa mì từ khắp nơi đều quy tụ về Chicago dé bán sản phẩm của họ. Dần dần, hoạt động này trở nên sôi nổi đến mức hầu như không đủ nhà kho chứa lúa mì của nông dân. Ngoài ra, sự tồn tại những phương pháp nghèo nàn trong việc cân và phân loại hàng hóa đã đây người nông dân vào tình thế phải chịu sự định đoạt của các thương nhân. Tình hình có vẻ khả quan hơn, khi vào năm 1848, một trung tâm giao dịch The Chicago Board of Trade (CBOT) đã được thành lập.
Ở đó, người nông dân và các thương nhân có thể mua bán trao ngay tiền mặt và lúa mì theo tiêu chuẩn về số lượng và chất lượng do CBOT qui định. Nhưng các giao dịch ở CBOT bấy giờ chỉ dừng lại ở hình thức của một chợ nông sản vì hình thức mua bán chỉ là nhận hàng - trao tiền đủ, sau đó thì quan hệ các bên chấm dứt.