Tổng quan nghiên cứu
Việt Nam là quốc gia sản xuất lúa gạo lớn thứ hai tại khu vực Đông Nam Á với sản lượng thóc thu hoạch bình quân đạt khoảng 33 đến 34 triệu tấn mỗi năm, đạt đỉnh cao 45,06 triệu tấn vào năm 2014 và duy trì mức 44,71 triệu tấn vào năm 2015. Mặc dù giá trị kim ngạch xuất khẩu gạo mang lại khoảng 2,7 tỷ USD với khối lượng xuất khẩu đạt từ 6,35 đến 6,52 triệu tấn mỗi năm, ngành nông nghiệp trong nước lại phải chi ra hơn 3 tỷ USD để nhập khẩu nguyên liệu phục vụ ngành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi. Nguồn nguyên liệu năng lượng chủ lực là ngô hạt luôn chịu áp lực lớn khi sản lượng trong nước chỉ dao động từ 4,5 đến 5,28 triệu tấn trên diện tích 1,17 triệu ha, chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ nội địa vượt trên 5 triệu tấn/năm, khiến giá ngô thường xuyên biến động thất thường từ 6.000 đến 7.500 VNĐ/kg.
Nghiên cứu được tác giả Vũ Thanh Mai thực hiện năm 2016 tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên phối hợp cùng Trường Đại học Hùng Vương (Phú Thọ) nhằm giải quyết nghịch lý phụ thuộc nguyên liệu ngoại nhập. Mục tiêu cụ thể của đề tài là xác định khả năng và hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của việc sử dụng hạt gạo lứt thay thế ngô trong khẩu phần thức ăn (không cân bằng năng lượng trao đổi ME và protein thô CP) đối với gà thịt F1 lai giữa gà trống Ri và gà mái Lương Phượng. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc tận dụng nguồn gạo lứt chiếm đến 80% khối lượng hạt thóc sau bóc vỏ trấu, giảm chi phí thức ăn đầu vào từ 5% đến 8%, cải thiện chỉ số sản xuất PI và chủ động nguồn năng lượng thức ăn chăn nuôi trong nước.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết di truyền và chọn giống gia cầm, xuất phát từ công thức tương tác giữa kiểu gen và môi trường sống (P = G + E). Tiềm năng tăng trọng của tổ hợp lai F1 (Ri x Lương Phượng) thừa hưởng 50% đặc tính chất lượng thịt thơm ngon, sức chống chịu tốt từ giống gà Ri nội địa và 50% tốc độ sinh trưởng nhanh từ dòng gà Lương Phượng ngoại nhập. Ở thời điểm 12 tuần tuổi, khối lượng gà F1 đạt mức trung bình 1.745 gam, vượt trội hơn gà Ri thuần (1.250 gam) đến 32% (tương đương 400 gam) và có tốc độ sinh trưởng tuyệt đối đạt 20,30 g/con/ngày.
Khung dinh dưỡng gia cầm áp dụng nguyên lý cân bằng dưỡng chất của McDonald (1995) và Singh (1998), xác định nhu cầu năng lượng trao đổi duy trì cho gia cầm ở mức 72 kcal/kg khối lượng cơ thể hoặc 86 kcal/kg khối lượng trao đổi chất (W^0,75). Cơ sở thay thế ngô bằng gạo lứt dựa trên tương quan sinh hóa vượt trội: gạo lứt chứa 86,38% vật chất khô (DM), 8,61% protein thô (CP), 73,57% dẫn xuất không đạm (NFE) và mức năng lượng trao đổi 327,10 kcal/100g, tương đương với ngô tẻ (88,11% DM, 9,27% CP, 70,08% NFE và 332,90 kcal/100g). Đồng thời, tổng hàm lượng 16 axit amin thiết yếu trong gạo lứt đạt 7,75%, cao hơn mức 7,46% của hạt ngô; tỷ lệ axit béo chưa no trên axit béo no (USFA/SFA) của gạo lứt ở mức 0,4512 so với 0,6936 của ngô giúp cấu trúc mỡ gia cầm săn chắc hơn.
Phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (CRD) trên đàn gà thịt F1 (Ri x Lương Phượng) từ 1 ngày tuổi đến 12 tuần tuổi (84 ngày) tại Trung tâm Thực nghiệm sinh học với quy mô 240 cá thể đồng đều về khối lượng ban đầu (khoảng 34 đến 36 gam/con). Đàn gà được phân chia ngẫu nhiên thành các lô thí nghiệm tương ứng với các mức thay thế ngô bằng gạo lứt gồm: Lô đối chứng (0% gạo lứt, 100% ngô), Lô thí nghiệm 1 (thay thế 25% ngô), Lô thí nghiệm 2 (thay thế 50% ngô), Lô thí nghiệm 3 (thay thế 75% ngô) và Lô thí nghiệm 4 (thay thế 100% ngô), chia theo 3 giai đoạn nuôi dưỡng: 0-3 tuần tuổi (24% CP, 3.000 kcal ME/kg), 4-7 tuần tuổi (21% CP, 3.000 kcal ME/kg) và 8-12 tuần tuổi (18% CP, 3.100 kcal ME/kg).
Phương pháp thu thập dữ liệu áp dụng tiêu chuẩn phân tích Weende quốc tế để kiểm tra thành phần hóa học thức ăn. Tỷ lệ nuôi sống được theo dõi cộng dồn hàng ngày, khối lượng cơ thể được cân định kỳ vào buổi sáng trước khi cho ăn tại các mốc 1, 3, 5, 7, 9, 11 và 12 tuần tuổi để tính toán sinh trưởng tuyệt đối (AG) và sinh trưởng tương đối (RG). Lượng thức ăn thu nhận hàng ngày và tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng (FCR) được đo lường chính xác bằng cân kỹ thuật độ nhạy 0,1 gam. Ở tuần thứ 12, tiến hành mổ khảo sát ngẫu nhiên 6 cá thể (3 trống, 3 mái) ở mỗi lô để xác định tỷ lệ thân thịt, tỷ lệ thịt đùi, thịt ngực, mỡ bụng, giá trị pH và tỷ lệ mất nước sau bảo quản. Toàn bộ số liệu sinh học được xử lý thống kê bằng phần mềm chuyên dụng ANOVA với ngưỡng sai số p < 0,05 để kiểm định độ tin cậy.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của gà F1 (Ri x Lương Phượng) trong suốt 12 tuần thí nghiệm duy trì ở mức rất cao, dao động từ 95,83% đến 97,92% ở tất cả các lô khẩu phần, không có sự sai khác mang ý nghĩa thống kê so với lô đối chứng dùng ngô truyền thống. Điều này chứng minh gạo lứt hoàn toàn an toàn sinh học, không gây rối loạn tiêu hóa hay ảnh hưởng tiêu cực đến sức đề kháng của gà thịt.
Thứ hai, tốc độ sinh trưởng tích lũy và khối lượng xuất chuồng lúc 12 tuần tuổi ở các lô ăn gạo lứt thay thế từ 25% đến 100% ngô đều đạt mức tương đương hoặc cao hơn lô đối chứng. Cụ thể, khối lượng sống bình quân đạt từ 1.740,5 gam đến 1.785,2 gam/con, trong đó mức tăng trọng tuyệt đối trung bình đạt từ 20,25 đến 20,80 gam/con/ngày, giúp rút ngắn thời gian nuôi thương phẩm mà vẫn đảm bảo thể trạng tối ưu.
Thứ ba, hiệu quả chuyển hóa thức ăn (FCR) cộng dồn sau 12 tuần đạt mức tối ưu trong khoảng từ 2,62 đến 2,75 kg thức ăn/kg tăng khối lượng. Lô sử dụng gạo lứt thay thế 50% và 75% ngô thể hiện hệ số chuyển hóa thức ăn giảm khoảng 2,5% đến 3,8% so với lô ăn ngô 100%, đồng thời chỉ số sản xuất (PI) ở giai đoạn 10-12 tuần tuổi đạt mức từ 195,4 đến 208,6 điểm.
Thứ tư, kết quả mổ khảo sát thân thịt ở 12 tuần tuổi cho thấy tỷ lệ thân thịt đạt từ 72,50% đến 74,15%, tỷ lệ thịt đùi đạt từ 20,85% đến 22,30% ở gà trống và tỷ lệ thịt ngực đạt từ 21,50% đến 23,10% ở gà mái. Đặc biệt, tỷ lệ mỡ bụng ở các nhóm ăn gạo lứt giảm từ 0,35% đến 0,55% so với nhóm đối chứng, đồng thời độ săn chắc của khối mỡ tăng lên rõ rệt.
Thảo luận kết quả
Khả năng tăng trọng và chỉ số chuyển đổi thức ăn vượt trội của các lô sử dụng gạo lứt bắt nguồn từ đặc tính tiêu hóa vượt trội của tinh bột lúa gạo. Hàm lượng chất xơ thô trong gạo lứt chỉ chiếm 1,60%, thấp hơn gần một nửa so với ngô tẻ (3,05%), giúp giảm sức cản của đường tiêu hóa và tăng khả năng hấp thu dưỡng chất ở manh tràng gia cầm non. Kết quả này hoàn toàn đồng nhất với các nghiên cứu của tác giả Piao và cộng sự (2002) khi xác định tỷ lệ tiêu hóa năng lượng thô (GE) và protein thô (CP) của gạo lứt đạt lần lượt 87,7% và 78,5%, cao hơn đáng kể so với mức 80,5% và 75,2% ở khẩu phần ngô.
Bên cạnh đó, việc suy giảm tỷ lệ mỡ bụng và nâng cao độ rắn chắc của mỡ thân thịt là do tỷ lệ axit béo không no trên axit béo no của gạo lứt ở mức thấp (0,4512), hạn chế tích tụ lipid dạng mềm lỏng dưới da. Dữ liệu thực nghiệm được trực quan hóa sinh động qua đồ thị đường cong sinh trưởng tích lũy dạng sigmoid chuẩn mực từ tuần 1 đến tuần 12, cùng các biểu đồ cột so sánh sinh trưởng tuyệt đối (AG) và sinh trưởng tương đối (RG) phản ánh rõ nét đỉnh tăng trưởng mạnh mẽ nhất rơi vào giai đoạn 5 đến 8 tuần tuổi. Bảng phân tích hóa học cơ thịt cũng chỉ ra chỉ số pH sau 24 giờ đạt mức 5,72 đến 5,85 và tỷ lệ mất nước bảo quản thấp hơn 4,5%, khẳng định phẩm chất thịt thơm ngon đặc trưng của dòng gà lai thả vườn.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, các trang trại chăn nuôi gia cầm quy mô bán thâm canh và thả đồi nên chủ động áp dụng công thức phối trộn thay thế từ 50% đến 100% ngô bằng hạt gạo lứt trong khẩu phần thức ăn hoàn chỉnh nhằm hạ giá thành thức ăn hỗn hợp từ 200 đến 450 VNĐ/kg trong các chu kỳ giá ngô nhập khẩu tăng cao trên 6.500 VNĐ/kg.
Thứ hai, các cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi gia cầm cần bổ sung các nguồn sắc tố tự nhiên như bột cỏ stylo (tỷ lệ 1,5% đến 2,5%), bột lá keo dậu hoặc phụ phẩm ngô gluten trong giai đoạn vỗ béo từ 8 đến 12 tuần tuổi nhằm bù đắp lượng carotenoid thiếu hụt trong gạo lứt, đảm bảo màu vàng óng tự nhiên của da chân và mỡ gà theo đúng thị hiếu người tiêu dùng Việt Nam.
Thứ ba, các hợp tác xã nông nghiệp và tổ hợp chăn nuôi địa phương cần triển khai quy trình sơ chế, sấy khô và bảo quản gạo lứt thô đạt độ ẩm tiêu chuẩn dưới 12,0% ngay sau mùa thu hoạch lúa vụ Xuân và vụ Mùa, kiểm soát chặt chẽ chỉ số ôi thiu của hàm lượng chất béo 2,30% để duy trì chất lượng cám phôi trong thời gian lưu trữ từ 3 đến 6 tháng.
Thứ tư, các cơ quan khuyến nông cấp tỉnh và huyện cần xây dựng chuỗi liên kết sản xuất khép kín giữa vùng thâm canh lúa gạo với các hộ chăn nuôi gà thịt F1 quy mô từ 2.000 đến 10.000 con trong giai đoạn 2017 đến 2025, nhằm giảm áp lực chi ngoại tệ nhập khẩu ngô hạt và gia tăng giá trị nội địa cho chuỗi cung ứng lúa gạo Việt Nam.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Thứ nhất, chủ các trang trại và gia trại chăn nuôi gia cầm lông màu, đặc biệt là các mô hình nuôi gà thả vườn, gà đồi quy mô từ 1.000 đến 20.000 con, có thể khai thác trực tiếp công thức phối trộn thức ăn chi phí thấp để nâng cao tỷ suất lợi nhuận từ 10% đến 15% trên mỗi lứa xuất chuồng.
Thứ hai, các chuyên gia dinh dưỡng và kỹ sư công thức tại các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi thương mại, giúp đa dạng hóa nguồn nguyên liệu thô sẵn có trong nước, tối ưu hóa thuật toán tuyến tính ma trận nguyên liệu và chủ động ứng phó trước các cú sốc đứt gãy chuỗi cung ứng ngũ cốc toàn cầu.
Thứ ba, các giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y và Bác sĩ thú y tại các trường đại học nông lâm, sử dụng tài liệu như một nghiên cứu điển hình về phương pháp bố trí thí nghiệm dinh dưỡng gia cầm và đánh giá chỉ tiêu năng suất thịt xẻ.
Thứ tư, các cán bộ quản lý nông nghiệp, khuyến nông viên và nhà hoạch định chính sách thuộc ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, có thêm cơ sở khoa học xác đáng để định hướng chính sách chuyển dịch cơ cấu cây trồng, phát triển công nghiệp chế biến phụ phẩm lúa gạo bền vững.
Câu hỏi thường gặp
Gạo lứt có thể thay thế hoàn toàn 100% ngô trong khẩu phần gà thịt F1 không?
Hoàn toàn khả thi. Nghiên cứu thực nghiệm chứng minh gà nuôi bằng khẩu phần thay thế 100% ngô bằng gạo lứt vẫn đạt khối lượng xuất chuồng 1.745 gam ở 12 tuần tuổi, tỷ lệ nuôi sống đạt 97,92% và hệ số chuyển hóa thức ăn tương đương lô đối chứng dùng ngô thuần túy.
Sử dụng gạo lứt có làm ảnh hưởng đến màu sắc da và thân thịt gà không?
Gạo lứt có hàm lượng sắc tố carotenoid thấp hơn ngô nên da gà có xu hướng nhạt màu hơn. Tuy nhiên, vấn đề này được giải quyết triệt để bằng cách bổ sung 2% bột lá cỏ tự nhiên hoặc tận dụng mô hình nuôi gà thả vườn tự kiếm thức ăn xanh trong giai đoạn 8-12 tuần tuổi.
Giá trị dinh dưỡng của gạo lứt có đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng của gà thịt không?
Có. Gạo lứt cung cấp 327,10 kcal ME/100g (so với ngô là 332,90 kcal/100g), protein thô đạt 8,61% và tổng axit amin thiết yếu đạt 7,75%, cao hơn ngô (7,46%), đáp ứng đầy đủ các chỉ tiêu dinh dưỡng cho quá trình trao đổi chất của gia cầm.
Tỷ lệ mỡ thân thịt của gà ăn gạo lứt có khác biệt gì so với gà ăn ngô?
Gà ăn khẩu phần gạo lứt có tỷ lệ mỡ bụng giảm từ 0,35% đến 0,55% nhờ tỷ lệ axit béo chưa no trên axit béo no đạt mức 0,4512, giúp mô mỡ săn chắc hơn, không bị nhão mỡ và rất thuận lợi cho khâu sơ chế, bảo quản thực phẩm.
Khi nào người chăn nuôi nên quyết định chuyển sang dùng gạo lứt thay ngô?
Người nuôi nên linh hoạt phối trộn gạo lứt khi giá ngô hạt trên thị trường vượt ngưỡng 6.500 đến 7.000 VNĐ/kg hoặc vào các thời điểm thu hoạch rộ lúa gạo vụ hè thu tại địa phương khi giá thóc gạo lứt rẻ hơn hoặc tương đương giá ngô thương phẩm.
Kết luận
- Đề tài xác định giá trị dinh dưỡng của gạo lứt hoàn toàn tương đương với ngô tẻ với năng lượng trao đổi đạt 327,10 kcal/100g và tổng hàm lượng axit amin thiết yếu đạt 7,75%.
- Tỷ lệ thay thế ngô bằng gạo lứt từ 25% đến 100% đảm bảo tỷ lệ nuôi sống đàn gà F1 đạt trên 95,83% và khối lượng xuất chuồng 12 tuần tuổi đạt bình quân 1.745 gam/con.
- Hệ số tiêu tốn thức ăn FCR duy trì ở mức tối ưu từ 2,62 đến 2,75 kg thức ăn/kg tăng khối lượng, tỷ lệ thân thịt đạt trên 72,50% và giảm thiểu tỷ lệ tích lũy mỡ bụng.
- Công trình cung cấp luận cứ khoa học quan trọng giúp các trang trại hạ giá thành sản xuất, giảm phụ thuộc vào nguồn ngô nhập khẩu trị giá hơn 3 tỷ USD mỗi năm của ngành chăn nuôi Việt Nam.
- Đóng góp quy trình dinh dưỡng chuẩn mực cho giai đoạn 2017-2025 nhằm phát triển bền vững chuỗi giá trị chăn nuôi gia cầm lông màu gắn liền với nguồn lương thực nội địa.
Các đơn vị sản xuất thức ăn và hộ chăn nuôi gia cầm hãy áp dụng ngay công thức khẩu phần gạo lứt linh hoạt để tối ưu hóa chi phí thức ăn và nâng cao chất lượng thịt gà thương phẩm ngay hôm nay!