PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Các công trình nghiên cứu về 6 năm đầu đời của con ngƣời đều khẳng định: Đây là giai đoạn quan trọng bậc nhất trong sự phát triển của con ngƣời, là giai đoạn có khả năng lĩnh hội lớn nhất. Nếu chúng ta không biết cách định hƣớng cho trẻ, khuyến khích và phát hiện khả năng của trẻ sẽ làm thui chột đi phần lớn tiềm năng của trẻ. Hoạt động vui chơi (HĐVC) là một dạng hoạt động đặc biệt, đóng vai trò chủ đạo, quyết định sự biến đổi về chất trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách trẻ em lứa tuổi mầm non (MN).
Không chỉ vậy, HĐVC còn làm bộc lộ rõ nét các đặc điểm tâm lý của trẻ. Đối với trẻ MN, nếu không chơi, trẻ sẽ bị ngăn cách với cuộc sống này bởi vì chơi cũng đồng thời là khám phá, là thử nghiệm và sáng tạo, giúp trẻ học hỏi, lĩnh hội, giao lƣu, hình thành, phát triển và bộc lộ các thành tố của nhân cách. Mặt khác HĐVC không chỉ giúp trẻ phát triển về mặt tinh thần mà còn cả về thể chất. Có thể nói, HĐVC là cuộc sống của trẻ thơ.
Hiện nay, tại Việt Nam, vấn đề chăm sóc, bảo vệ quyền lợi, phát triển toàn diện cho trẻ ngày càng đƣợc chú trọng và quan tâm sát sao hơn. Trong lĩnh vực giáo dục, đó là sự đầu tƣ nhiều về cơ sở giáo dục và đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên MN. Tuy nhiên, một điều dễ nhận thấy tại các trƣờng có tổ chức các HĐVC dành cho trẻ MN, nhƣng hiệu quả giáo dục mà hoạt động này mang lại còn chƣa đáp ứng đƣợc mục tiêu đã đặt ra. Thực tế trong thời gian gần đây, rất nhiều giáo viên (GV) mầm non bỏ nghề do mức thu nhập của họ quá thấp, không đảm bảo đƣợc đời sống cho họ.
Điều này ảnh hƣởng không nhỏ tới chất lƣợng của nhiều hoạt động tại trƣờng MN, trong đó có HĐVC của trẻ MN. Theo đó, có thể dễ dàng nhận thấy: việc tổ chức HĐVC của trẻ lứa tuổi MN vẫn còn mang tính hình thức, tức là GV vẫn chƣa thực sự hết lòng, chú tâm vào việc hƣớng dẫn, định hƣớng cho trẻ chơi, chƣa dành nhiều thời gian cho HĐVC của trẻ. Và nhƣ vậy, trong hoạt động chơi, trẻ chƣa lĩnh hội hết các quy luật chơi, ý nghĩa trò chơi, cũng nhƣ tác dụng giáo dục trong các trò chơi, từ đó LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 không kích thích đƣợc khả năng sáng tạo của trẻ, không giúp trẻ hình thành và phát triển đƣợc các đặc điểm tâm lý theo mục đích giáo dục ở các trò chơi đƣợc đặt ra. Dƣới góc độ Tâm lý học, trên thế giới đã có không ít công trình nghiên cứu về HĐVC của trẻ, nhƣng ở nƣớc ta, các nghiên cứu về lĩnh vực này còn khá khiêm tốn.
Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Hoạt động vui chơi trong nhà trƣờng của trẻ em lứa tuổi mầm non thành phố Hà Nội" với mục đích chỉ ra một số đặc điểm tâm lý của trẻ em trong HĐVC tại trƣờng MN, từ đó đề xuất một số kiến nghị góp phần làm cho việc tổ chức HĐVC của trẻ ở trƣờng MN hình thành và phát triển đƣợc các đặc điểm tâm lý theo mục đích của các trò chơi cho trẻ. Mục đích nghiên cứu. Làm rõ các biểu hiện tâm lý của trẻ em lứa tuổi MN trong HĐVC tại một số trƣờng MN trên địa bàn thành phố Hà Nội (TP HN) hiện nay; phân tích một số yếu tố tác động đến sự hình thành các biểu hiện này, từ đó đề xuất một số kiến nghị góp phần làm cho việc tổ chức HĐVC của trẻ ở trƣờng MN phát huy đƣợc tính ƣu việt của chúng giúp cho quá trình hình thành và phát triển các đặc điểm tâm lý mong muốn đặt ra của các trò chơi ở trẻ em. Đối tƣợng, phạm vi và khách thể nghiên cứu 3.
Đối tượng nghiên cứu Một số biểu hiện tâm lý bộc lộ trong HĐVC của trẻ em ở một số trƣờng MN tại TP HN. Giới hạn phạm vi nghiên cứu. - Về Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu chỉ làm rõ các biểu hiện tâm lý thông qua HĐVC của trẻ mầm non ở 3 mặt cơ bản là: Nhận thức, cảm xúc và hành vi trong một số trò chơi: Đóng vai theo chủ đề, Làm dáng, Chiếc túi kỳ lạ, Vật chìm vật nổi, Tự giới thiệu bản thân và thi vẽ tranh. - Về khách thể nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu 30 giáo viên và 6 lớp mẫu giáo ( 2 lớp mẫu giáo 3 - 4 tuổi, 2 lớp mẫu giáo 4 - 5 tuổi, 2 lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi) của 2 trƣờng MN trên địa bàn TP Hà Nội.
Tùy thuộc vào từng trò chơi mà số lƣợng trẻ lấy ở 6 lớp mẫu giáo khác nhau. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Về địa bàn nghiên cứu: Trƣờng MN thực hành Linh Đàm và trƣờng MN tƣ thục Hoa Thủy Tiên. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tổng quan một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về HĐVC của trẻ em lứa tuổi MN và các đặc điểm tâm lý của trẻ em lứa tuổi MN biểu hiện trong HĐVC; - Chỉ ra một số biểu hiện tâm lý của trẻ em lứa tuổi MN thông qua HĐVC thể hiện ở 3 mặt: Nhận thức, cảm xúc và hành vi; - Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến sự hình thành và bộc lộ các đặc điểm tâm lý này; - Đề xuất một số kiến nghị góp phần góp phần làm cho việc tổ chức HĐVC của trẻ ở trƣờng MN phát huy đƣợc tính ƣu việt của chúng, giúp cho quá trình hình thành và phát triển các đặc điểm tâm lý theo mong muốn ở trẻ em. Giả thuyết khoa học.
Các đặc điểm tâm lý của trẻ em lứa tuổi mầm non tại các trƣờng trên địa bàn Hà Nội về cơ bản đã hình thành và bộc lộ khá rõ thông qua các trò chơi và phù hợp với sự phát triển tâm lý của trẻ theo độ tuổi. Có nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến sự hình thành và bộc lộ các đặc điểm tâm lý này, trong đó yếu tố chủ quan cơ bản là động cơ thúc đẩy trẻ tham gia vào trò chơi và yếu tố khách quan cơ bản là GV tổ chức HĐVC. Phƣơng pháp nghiên cứu. - Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp quan sát. - Phương pháp phỏng vấn sâu - Phương pháp phân tích sản phẩm của hoạt đông. - Phương pháp xử lý SPSS. Cấu trúc luận văn Nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận tâm lý học về hoạt động vui chơi trong nhà trƣờng của trẻ em lứa tuổi mầm non.
- Chƣơng 2: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu. - Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu biểu hiện tâm lý bộc lộ qua HĐVC của trẻ em lứa tuổi mầm non. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN TÂM LÝ HỌC VỀ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CỦA TRẺ EM LỨA TUỔI MẦM NON 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu tâm lý của trẻ trong HĐVC 1.
Trên thế giới: Nửa cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, trong Tâm lý học có rất nhiều quan điểm và học thuyết nghiên cứu về trò chơi, tuy nhiên, các quan điểm về vấn đề này không có sự thống nhất bởi họ có cơ sở nghiên cứu cũng nhƣ cách lí luận khác nhau. Ngƣời ta thƣờng xếp theo nhóm các học thuyếthay quan niệm giống nhau của các học thuyết để dễ phân biệt. Các lý thuyết có quan điểm sinh vật hóa trò chơi Theo một số lý thuyết cổ điển, chơi là hoạt động không có mục đích, tự nhiên sẵn có của sinh vật nhằm giải tỏa năng lƣợng dƣ thừa hoặc là hoạt động thƣ giãn nhằm nạp lại năng lƣợng đang thiếu. Họ xem hoạt động chơi không mang mục đích quan trọng nào và có thể thay thế bằng hoạt động khác.
Đại diện và là cha đẻ của lý thuyết này chính là S.Freud (1856 - 1933): Freud cho rằng nhiều trò chơi của trẻ là cách chuyển hoá của xung lực tính dục bị ngƣời lớn kiềm chế. Đối với cha mẹ, anh chị, trẻ có một tình cảm hai chiều trái ngƣợc nhau, vừa yêu mến, kính phục, vừa ghen ghét, căm giận. Tâm trí trẻ chƣa đủ sức hóa giải mâu thuẫn giữa hai tình cảm ấy, nên đƣợc “trá hình” vào trong những hoạt động chơi. Trong những hoạt động chơi đó, trẻ ôm ấp nâng niu đồ chơi, hay trút giận, đập phá đồ chơi đều là cách giải tỏa những cảm xúc mâu thuẫn nội tại không thể diễn đạt.
Trẻ thu nhận kiến thức bên trong trên cơ sở hoạt động đáp ứng những kích thích bên ngoài. Ở trẻ, bản năng biểu hiện ra trò chơi, thể hiện mong ƣớc, niềm đam mê của trẻ và liên quan tới bản năng tình dục, chịu ảnh hƣởng của bản năng tình dục [32, tr. Hơn nữa, Freud là ngƣời đầu tiên dùng hoạt động chơi nhƣ một liệu pháp chữa các chứng rối nhiễu tâm lý ở trẻ em. Trong hoạt động chơi đó, đứa trẻ đƣợc tự do giải phóng nội tâm nhiều uẩn ức, lo hãi, huyễn tƣởng trên các đồ chơi.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Ông chia các giai đoạn phát triển tâm lý của trẻ dựa theo các biểu tƣợng gây khoái cảm cho trẻ trong giai đoạn đó. Dù có những hạn chế rõ rệt là đã bản năng hóa trò chơi cũng nhƣ tuyệt đối hóa bản năng về HĐVC của trẻ giống nhƣ vấn đề nhân cách, song mặt tích cực, thành quả không chối cãi đƣợc trong lý thuyết của Freud về trò chơi đó là việc dùng trò chơi nhƣ một liệu pháp tâm lý chữa bệnh cho trẻ của ông. Đã có rất nhiều ngƣời và nhiều nƣớc trên thế giới sử dụng liệu pháp này thành công. Erikson (1905 - 1994): Ông chia sự phát triển con ngƣời ra 8 giai đoạn, trong đó có giai đoạn trẻ từ 3 đến 6 tuổi: là giai đoạn xung đột giữa ý muốn tự ý và cảm giác có tội.
Giai đoạn này, trẻ có khả năng tự hoạt động và nảy sinh nhiều ý muốn tự ý nhƣng luôn phải tuân thủ những giới hạn và qui tắc của xã hội. Trẻ phải đạt đƣợc sự cân bằng lành mạnh giữa ý muốn tự ý lựa chọn những điều trong khuôn phép, chứ không bị ép buộc hoặc từ chối cảm giác có tội khi lựa chọn những điều không đƣợc phép.