Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục với đề tài "Hoạt động trải nghiệm trong dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp 4, 5" được tác giả Nguyễn Thị Dung thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào năm 2019, thuộc chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Văn và Tiếng Việt (mã số: 9.11), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Lê A và PGS.TS Phan Thị Hồng Xuân.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 14/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 (Quyết định số 711/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ). Chương trình giáo dục phổ thông chuyển dịch từ tiếp cận trang bị kiến thức sang định hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học. Trong bậc tiểu học, môn Tiếng Việt giữ vai trò công cụ và phát triển năng lực ngôn ngữ, cảm thụ văn học, thẩm mĩ và giao tiếp.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định từ thực tế triển khai hoạt động trải nghiệm tại các trường tiểu học:
- Các nghiên cứu và tài liệu tập huấn trước đây chủ yếu tiếp cận hoạt động trải nghiệm ở mức khái quát hoặc gắn liền với các hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa, chưa đi sâu hướng dẫn vận dụng vào từng phân môn cụ thể trong giờ học chính khóa.
- Giáo viên tiểu học còn hiểu khái niệm hoạt động trải nghiệm một cách chung chung, chưa nắm vững cách thức thiết kế bài giảng phân môn Tiếng Việt theo tiến trình trải nghiệm, thiếu tài liệu hướng dẫn quy trình sư phạm cụ thể.
Mục đích nghiên cứu của luận án là bổ sung hệ thống lí luận về phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học thông qua việc xác lập cơ sở khoa học, xác định các yêu cầu, xây dựng quy trình và cách thức tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp 4, 5; đồng thời kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả sư phạm qua thực nghiệm.
Nhiệm vụ nghiên cứu gồm 4 nội dung:
- Tổng quan những nội dung chính trong các công trình nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm trên thế giới và ở Việt Nam.
- Xác lập cơ sở khoa học của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp 4, 5.
- Xác định các yêu cầu, xây dựng quy trình và cách thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp 4, 5.
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra, đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các đề xuất sư phạm trong luận án.
Giả thuyết khoa học: Nếu nghiên cứu, làm sáng tỏ được cơ sở khoa học của việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong dạy học Tiếng Việt, từ đó đề xuất các yêu cầu, quy trình, cách thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí học sinh lớp 4, 5 và phù hợp với đặc trưng môn Tiếng Việt thì sẽ phát huy hứng thú, tính tích cực, chủ động, sáng tạo và phát triển năng lực của học sinh.
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động trải nghiệm trong dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp 4, 5.
Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn nghiên cứu việc tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học Tiếng Việt ở hai lớp cuối cấp tiểu học (lớp 4 và lớp 5) — giai đoạn học sinh đã phát triển năng lực tư duy phân tích, tổng hợp và vốn ngôn ngữ; tập trung chủ yếu vào hai mạch kĩ năng đọc hiểu (phân môn Tập đọc) và tạo lập văn bản (phân môn Tập làm văn) theo hướng tích hợp với kĩ năng nghe và nói.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án khảo sát lịch sử nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm qua các giai đoạn và lĩnh vực khoa học:
Các công trình nghiên cứu trên thế giới
- Trong triết học: Tư tưởng học qua thực hành xuất hiện từ thời cổ đại ở phương Đông với Khổng Tử ("Những gì tôi nghe, tôi sẽ quên; những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ; những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu", chủ trương học nhi thời tập chi) và Mặc Tử (học gắn với thực tiễn, kiêm ái, lao động); ở phương Tây với Socrates (học bằng cách làm). Nhận thức luận của V.I. Lênin về con đường biện chứng của nhận thức chân lí được sử dụng làm nền tảng phương pháp luận.
- Trong tâm lí học: Lev Vygotsky với Lí thuyết phát triển xã hội và Bản đồ tâm trí, nhấn mạnh nhận thức hình thành qua tương tác với thế giới khách quan và hoạt động xã hội; Kurt Lewin nghiên cứu sự kết hợp giữa lí thuyết và thực hành, chỉ ra học tập diễn ra tối ưu khi có sự xung đột giữa kinh nghiệm cá nhân với hoạt động học tập.
- Trong giáo dục học: J.A. Comenius phê phán lối học kinh viện, chủ trương đưa học sinh tiếp xúc với tự nhiên; Robert Owen kết hợp giáo dục với lao động sản xuất; John Dewey với tác phẩm Kinh nghiệm và giáo dục (1938) đề xuất nguyên lí "học qua làm" (learning by doing); David A. Kolb (1971, 1984, 2005) hệ thống hóa lí thuyết học tập qua trải nghiệm (Experiential Learning Theory - ELT), mô hình chu trình học tập 4 giai đoạn và khái niệm không gian học tập; Guy Brousseau và Claude Comiti (Viện IUFM Grenoble, Pháp) với mô hình cấu trúc dạy học 4 yếu tố (người dạy - người học - nội dung - môi trường); Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO, 2010) với phương pháp tiếp cận lớp học đồng ruộng.
Các nghiên cứu tại Việt Nam
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về “Học đi đôi với hành, lí thuyết gắn liền với thực tiễn, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất”.
- Nghiên cứu chung về hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong trường phổ thông: Nguyễn Thị Kim Dung và Nguyễn Thị Hằng (4 phương pháp: giải quyết vấn đề, sắm vai, trò chơi, làm việc nhóm); Đinh Thị Kim Thoa (xác định mục tiêu 5 năng lực đặc thù và 3 phẩm chất); Ngô Thị Tuyên và Ngô Hiền Tuyên (phân loại 6 dạng trải nghiệm: vật chất, tinh thần, tình cảm, xã hội, mô phỏng, chủ quan); Bùi Ngọc Diệp (các hình thức hoạt động tập thể, chu trình trải nghiệm); Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Thị Hằng, Tưởng Duy Hải, Đào Thị Ngọc Minh (2016); tài liệu tập huấn của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015, 2016); các bài báo hội thảo của Nguyễn Trọng Khanh, Phan Thị Luyến, Nguyễn Kim Anh, Nguyễn Tiến Dũng, Lê Thị Thu, Phạm Thị Thu Hương; bài giảng của Trần Văn Tính, Trần Quỳnh Trang, Lục Thị Nga.
- Nghiên cứu ứng dụng trải nghiệm theo môn học: Đỗ Tiến Đạt (môn Toán tiểu học), Võ Trung Minh (giáo dục môi trường trong môn Khoa học lớp 4, 5), bộ sách hoạt động trải nghiệm của Nguyễn Quốc Vương và Lê Xuân Quang.
- Vận dụng trong dạy học Tiếng Việt tiểu học: Lê Phương Nga nghiên cứu về 8 hình thức hoạt động ngoại khóa Tiếng Việt; Mô hình trường học mới tại Việt Nam (GPE - VNEN) với quy trình học tập 5 bước và cấu trúc 3 hoạt động (cơ bản, thực hành, ứng dụng).
Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết là: chuyển hóa lí thuyết hoạt động trải nghiệm từ các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và mô hình giáo dục chung thành một quy trình sư phạm cụ thể, trực tiếp áp dụng trong các giờ học Tiếng Việt chính khóa lớp 4 và lớp 5.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lí thuyết và khái niệm cốt lõi
Luận án kế thừa và tổng hợp các mô hình nhận thức và trải nghiệm:
- Mô hình của Kurt Lewin (1947): Chu trình 4 bước gồm Trải nghiệm cụ thể $\rightarrow$ Quan sát và suy tưởng $\rightarrow$ Hình thành khái niệm trừu tượng và khái quát hóa $\rightarrow$ Áp dụng thử nghiệm các khái niệm trong tình huống mới.
- Mô hình học qua kinh nghiệm của John Dewey (1938): Ba khâu tương tác liên hoàn: Quan sát các điều kiện xung quanh $\rightarrow$ Kiến thức về những gì đã xảy ra $\rightarrow$ Phán đoán, đánh giá.
- Lí thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget: Bốn giai đoạn phát triển trí tuệ (0-2 tuổi: cảm giác - vận động; 3-6 tuổi: tiền thao tác / trực quan; 7-11 tuổi: thao tác cụ thể; 12-16 tuổi: thao tác hình thức / tư duy trừu tượng). Học sinh lớp 4, 5 (9-11 tuổi) nằm ở giai đoạn thao tác cụ thể chuyển dần sang tư duy trừu tượng.
- Mô hình chu trình trải nghiệm của David Kolb (1984): Vòng xoắn ốc gồm Trải nghiệm cụ thể (Concrete Experience - CE) $\rightarrow$ Quan sát suy tưởng (Reflective Observation - RO) $\rightarrow$ Khái niệm hóa trừu tượng (Abstract Conceptualization - AC) $\rightarrow$ Thử nghiệm tích cực (Active Experimentation - AE).
- Chu trình học qua trải nghiệm của Bùi Ngọc Diệp: Kinh nghiệm (hành động, việc làm) $\rightarrow$ Phân tích (chia sẻ, so sánh, suy ngẫm) $\rightarrow$ Khái quát hóa (rút ra kết luận, nguyên tắc) $\rightarrow$ Áp dụng (thực hành, vận dụng thực tế).
Tác giả đưa ra định nghĩa chuyên biệt: "Hoạt động trải nghiệm trong dạy học Tiếng Việt là hoạt động dạy học, trong đó giáo viên tổ chức cho học sinh huy động toàn bộ con người cá nhân để chiếm lĩnh kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành và phát triển các năng lực ngôn ngữ tiếng Việt bằng phương thức kinh qua, nhập thân, khám phá, nếm trải nội dung học tập môn Tiếng Việt vào thực tiễn đời sống của người học".
Dưới đây là bảng phân định ranh giới học thuật giữa hoạt động trải nghiệm và hoạt động tiếp thu thông tin thuần túy được luận án tổng hợp:
| Tiêu chí |
Hoạt động trải nghiệm |
Hoạt động tiếp thu thông tin thuần túy |
| Mục đích |
Hình thành, phát triển phẩm chất, nhân cách, năng lực, giá trị và các kĩ năng sống cho học sinh. |
Hình thành năng lực, kĩ năng trí tuệ thuần túy cho học sinh. |
| Chức năng |
Thực hiện nhiệm vụ giáo dục toàn diện, thiên về cảm xúc, thái độ, niềm tin, chuẩn mực đạo đức, lối sống. |
Thực hiện chức năng giáo dục, phát triển trí tuệ, nhận thức và kĩ năng, kĩ xảo. |
| Đặc trưng |
Hình thành chuẩn mực xã hội dựa trên nhu cầu của xã hội và hứng thú của học sinh. |
Hệ thống khái niệm, tri thức, kĩ năng quy định chặt chẽ theo logic nhận thức và phân phối chương trình. |
| Nội dung |
Kiến thức gắn với thực tiễn địa phương, tích hợp liên môn, dễ vận dụng vào thực tế đời sống. |
Gắn với lĩnh vực chuyên môn, đơn môn và nội dung sách giáo khoa. |
| Thời gian |
Quá trình diễn ra lâu dài, bền bỉ, linh hoạt. |
Bài học theo thời khóa biểu, tiết học, xêmina, thực hành cố định. |
| Hình thức |
Đa dạng, phong phú (trò chơi, đóng vai, tham quan, dự án...). |
Thuyết trình, giảng giải, vấn đáp truyền thống. |
| Không gian |
Cả trong và ngoài phòng học, thực địa. |
Chủ yếu diễn ra bên trong phòng học. |
| Phương thức |
Trải nghiệm, chiêm nghiệm, hoạt động cá nhân kết hợp nhóm/tập thể. |
Giáo viên truyền đạt, phân tích; học sinh chủ yếu tiếp nhận cá nhân. |
| Tâm lí học sinh |
Chủ động, linh hoạt, tích cực và sáng tạo. |
Bị động, tiếp thu một chiều theo nội dung có sẵn. |
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Thu thập, phân loại, phân tích và hệ thống hóa văn kiện chính sách giáo dục, các tài liệu triết học, tâm lí học, giáo dục học trong nước và quốc tế để xây dựng khung lí luận.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn: Soạn phiếu hỏi và phỏng vấn cán bộ quản lí, giáo viên, học sinh, phụ huynh tại các trường tiểu học đại diện cho địa bàn thành phố, nông thôn, miền núi, hải đảo; phân tích hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4, 5 (phần Tập đọc và Tập làm văn).
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế giáo án thực nghiệm, tổ chức dạy học đối chứng và thực nghiệm song song trên các nhóm học sinh tương đương về trình độ và lứa tuổi qua 2 vòng thực nghiệm.
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phần mềm thống kê để xử lí các số liệu thu được; tính toán các tham số đặc trưng (điểm trung bình $\bar{X}$, phương sai $S^2$, độ lệch chuẩn $S$, hệ số biến thiên $V$), lập bảng phân phối tần số, bảng phân phối tần suất, phân loại học lực, bảng phân bố tần số tích lũy hội tụ lùi và kiểm định giả thuyết thống kê bằng phân phối Student ($t$-test).
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
Chương này tổng thuật toàn diện các hướng tiếp cận lí thuyết và thực tiễn về hoạt động trải nghiệm:
- Phân tích cơ sở triết học (tư tưởng của Khổng Tử, Socrates, Mặc Tử, Lênin), khẳng định trải nghiệm là phạm trù phản ánh sự thống nhất giữa kinh nghiệm, kĩ năng và thực tiễn khách quan.
- Hệ thống hóa các quan điểm tâm lí học (Lev Vygotsky, Kurt Lewin) về vai trò của hoạt động thực tiễn trong việc chuyển hóa tri thức xã hội thành tri thức cá nhân.
- Phân tích sự phát triển của giáo dục học trải nghiệm trên thế giới qua công trình của Comenius, Owen, John Dewey và David Kolb.
- Khảo sát thực tiễn áp dụng hoạt động trải nghiệm tại Việt Nam: các mô hình hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường trung học, mô hình trường học mới (VNEN), các hoạt động ngoại khóa môn Tiếng Việt của Lê Phương Nga.
- Luận chứng sự cần thiết phải mở rộng phạm vi tổ chức hoạt động trải nghiệm vào nội dung dạy học môn Tiếng Việt lớp 4, 5.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 4, 5
Chương 2 thiết lập cơ sở khoa học và thực tiễn cho đề tài:
- Trình bày các mô hình học tập trải nghiệm của Kurt Lewin, John Dewey, Jean Piaget, David Kolb và chu trình của Bùi Ngọc Diệp; so sánh bản chất giữa hoạt động trải nghiệm và hoạt động tiếp thu thông tin thuần túy.
- Xác định đặc trưng bộ môn Tiếng Việt lớp 4, 5: mang tính công cụ kết hợp tính thẩm mĩ - nhân văn; cấu trúc theo 4 kĩ năng đọc, viết, nói, nghe. Luận án tập trung vào hai trục tiếp nhận văn bản (đọc hiểu) và tạo lập văn bản (tập làm văn miêu tả, kể chuyện).
- Phân tích cơ sở phát triển năng lực học sinh (năng lực ngôn ngữ, giao tiếp, cảm thụ văn chương, giải quyết vấn đề) và vai trò của các nhân tố tham gia (giáo viên định hướng, học sinh là chủ thể trải nghiệm, sự hỗ trợ của gia đình và môi trường xã hội).
- Khảo sát thực trạng dạy học Tiếng Việt lớp 4, 5 tại các trường tiểu học:
- Phân tích hệ thống bài học và câu hỏi trong sách giáo khoa Tiếng Việt 4, 5: phần lớn câu hỏi vẫn tập trung vào tái hiện kiến thức, thiếu các tình huống yêu cầu học sinh liên hệ trải nghiệm cá nhân hoặc thực hành vận dụng sáng tạo.
- Khảo sát giáo viên: giáo viên nhìn nhận hoạt động trải nghiệm còn mang tính hình thức, chủ yếu thực hiện ngoài giờ lên lớp, lúng túng trong việc thiết kế hoạt động trải nghiệm trong tiết học chính khóa do áp lực thời gian và thiếu tài liệu quy chuẩn.
- Khảo sát học sinh: học sinh tiếp thu thụ động, thiếu cơ hội bộc lộ vốn sống cá nhân trong các bài viết Tập làm văn, dẫn đến hiện tượng sao chép văn mẫu.
- Khảo sát nhận thức của phụ huynh học sinh về việc phối hợp tổ chức và hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động trải nghiệm.
CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 4, 5
Chương 3 đề xuất giải pháp sư phạm cốt lõi của luận án:
- Xác định 4 yêu cầu sư phạm khi tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học Tiếng Việt:
- Phải bảo đảm mục tiêu chuẩn kiến thức, kĩ năng và năng lực của môn học.
- Phải kết hợp hài hòa với các hoạt động dạy học truyền thống và các hoạt động giáo dục khác.
- Phải đa dạng hóa phương pháp (đóng vai, thảo luận nhóm, trò chơi ngôn ngữ, giải quyết vấn đề) và hình thức tổ chức (trong lớp, ngoài sân trường, thực địa).
- Phải tạo được hứng thú và phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí học sinh lớp 4, 5.
- Xây dựng quy trình 3 giai đoạn tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học Tiếng Việt:
- Hoạt động huy động kiến thức sẵn có và trải nghiệm cụ thể: Giáo viên tạo tình huống kích thích vốn sống, vốn từ vựng và kinh nghiệm nền của học sinh liên quan đến bài học.
- Hoạt động chiếm lĩnh: Học sinh quan sát, phân tích, thảo luận, xử lí thông tin để hình thành kiến thức ngôn ngữ mới, hiểu sâu sắc văn bản đọc hiểu hoặc nắm bắt cấu trúc, phương pháp tạo lập văn bản.
- Hoạt động chuyển hóa: Học sinh áp dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào giải quyết tình huống giao tiếp mới, thực hành viết đoạn văn/bài văn sáng tạo hoặc tham gia các hoạt động ngôn ngữ thực tế tại gia đình và cộng đồng.
- Xây dựng các thiết kế bài dạy minh họa cụ thể cho phân môn Tập đọc và Tập làm văn, cùng các hoạt động trải nghiệm bổ trợ ngoài giờ học tiếng Việt.
CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
Chương 4 kiểm định tính khả thi của các đề xuất lí luận:
- Quy mô thực nghiệm: Được tiến hành qua 2 vòng trên các nhóm lớp Thực nghiệm (TN) và Đối chứng (ĐC) có trình độ tương đương tại các trường tiểu học:
- Vòng 1 (Năm học 2016 - 2017): Kiểm tra đánh giá trên các nhóm lớp TN1 và ĐC1.
- Vòng 2 (Năm học 2017 - 2018): Tiếp tục mở rộng, hoàn thiện quy trình trên các nhóm lớp TN2 và ĐC2.
- Nội dung thực nghiệm: Tổ chức giảng dạy 4 giáo án thực nghiệm (2 bài Tập đọc, 2 bài Tập làm văn) và 2 hoạt động trải nghiệm ngoài giờ học tiếng Việt bổ trợ.
- Công cụ và phương pháp xử lí: Sử dụng các bài kiểm tra đánh giá theo thang điểm chuẩn; thu thập dữ liệu điểm số, lập bảng phân phối tần số, bảng phân phối tần suất, phân loại học lực (Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu), lập bảng phân bố tần số tích lũy hội tụ lùi và kiểm định Student.
- Kết quả đo nghiệm:
- Điểm trung bình của nhóm thực nghiệm ở cả hai vòng đều cao hơn nhóm đối chứng một cách có ý nghĩa thống kê.
- Đường phân bố tần số tích lũy hội tụ lùi của nhóm thực nghiệm luôn nằm về phía bên phải so với nhóm đối chứng, tỉ lệ học sinh đạt loại Khá - Giỏi ở nhóm thực nghiệm cao hơn rõ rệt và tỉ lệ học sinh Trung bình - Yếu giảm mạnh.
- Đánh giá định tính: Học sinh các lớp thực nghiệm thể hiện sự hứng thú, tích cực giao tiếp, khả năng sử dụng từ ngữ phong phú, bài viết Tập làm văn chân thực, giàu cảm xúc và sáng tạo hơn.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lí luận
- Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở khoa học của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học dựa trên sự kế thừa lí thuyết trải nghiệm của Kolb, Dewey, Lewin, Piaget và đặc trưng phương pháp dạy học tiếng mẹ đẻ.
- Xây dựng định nghĩa khoa học về hoạt động trải nghiệm trong dạy học Tiếng Việt, xác định các đặc trưng phân biệt giữa hoạt động trải nghiệm và hoạt động tiếp thu thông tin thuần túy.
- Đề xuất hệ thống yêu cầu sư phạm và quy trình 3 giai đoạn (Huy động kinh nghiệm nền $\rightarrow$ Chiếm lĩnh $\rightarrow$ Chuyển hóa) chuyên biệt cho việc thiết kế bài dạy Tiếng Việt lớp 4, 5 theo định hướng trải nghiệm.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Đánh giá thực trạng dạy học Tiếng Việt lớp 4, 5 dưới góc nhìn trải nghiệm qua việc khảo sát sách giáo khoa, giáo viên, học sinh, cán bộ quản lí và phụ huynh.
- Cụ thể hóa quy trình lí luận thành hệ thống các bài soạn giáo án minh họa cho phân môn Tập đọc, Tập làm văn lớp 4, 5 và các hoạt động trải nghiệm bổ trợ.
- Cung cấp số liệu thực nghiệm sư phạm minh chứng rằng việc dạy học theo quy trình hoạt động trải nghiệm giúp nâng cao kết quả học tập, phát triển năng lực ngôn ngữ và kích thích hứng thú học tập của học sinh.
Khuyến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với các cấp quản lí giáo dục: Cần xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, tập huấn cho giáo viên về phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm trong từng môn học cụ thể; tạo điều kiện linh hoạt về không gian, thời gian và cơ sở vật chất.
- Đối với nhà trường và giáo viên: Chủ động xây dựng kế hoạch dạy học tích hợp trải nghiệm, phối hợp chặt chẽ với gia đình học sinh; đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng chú trọng khả năng vận dụng ngôn ngữ vào thực tiễn thay vì tái hiện lí thuyết.
- Đối với việc biên soạn tài liệu: Cần bổ sung sách hướng dẫn thiết kế bài học Tiếng Việt theo quy trình trải nghiệm cho giáo viên tiểu học tham khảo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực nghiệm ở đối tượng học sinh lớp 4 và lớp 5 (hai lớp cuối cấp tiểu học) và tập trung chủ yếu vào hai mạch kĩ năng đọc hiểu (Tập đọc) và tạo lập văn bản (Tập làm văn), chưa bao quát toàn bộ các khối lớp khác (lớp 1, 2, 3) cũng như các phân môn khác của môn Tiếng Việt (Luyện từ và câu, Chính tả, Kể chuyện).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu quy trình tổ chức hoạt động trải nghiệm cho các khối lớp 1, 2, 3 ở tiểu học; nghiên cứu sâu hơn về quy trình thiết kế hoạt động trải nghiệm cho các phân môn Luyện từ và câu, Chính tả; nghiên cứu ứng dụng trải nghiệm mô phỏng qua công nghệ thông tin trong dạy học Tiếng Việt.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Văn - Tiếng Việt, Giáo dục học: Tham khảo khung lí thuyết về hoạt động trải nghiệm, phương pháp so sánh đối chiếu giữa dạy học trải nghiệm và dạy học truyền thống, cũng như quy trình thiết kế và xử lí thống kê thực nghiệm sư phạm.
- Giảng viên các trường đại học, cao đẳng sư phạm: Sử dụng tài liệu để giảng dạy học phần Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học và hướng dẫn sinh viên rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
- Giáo viên tiểu học và cán bộ quản lí chuyên môn: Tham khảo quy trình 3 bước và hệ thống giáo án mẫu để đổi mới phương pháp giảng dạy phân môn Tập đọc và Tập làm văn lớp 4, 5 theo định hướng phát triển năng lực.
- Các nhà biên soạn chương trình, sách giáo khoa: Tham khảo các yêu cầu và cách thức thiết kế câu hỏi, bài tập gắn liền với trải nghiệm thực tiễn đời sống của học sinh.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa hoạt động trải nghiệm trong dạy học Tiếng Việt như thế nào?
Theo luận án, hoạt động trải nghiệm trong dạy học Tiếng Việt là hoạt động dạy học, trong đó giáo viên tổ chức cho học sinh huy động toàn bộ con người cá nhân để chiếm lĩnh kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành và phát triển các năng lực ngôn ngữ tiếng Việt bằng phương thức kinh qua, nhập thân, khám phá, nếm trải nội dung học tập môn Tiếng Việt vào thực tiễn đời sống của người học.
2. Quy trình tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học Tiếng Việt lớp 4, 5 gồm những bước nào?
Quy trình gồm 3 giai đoạn:
- Hoạt động huy động kiến thức sẵn có và trải nghiệm cụ thể: Kích hoạt vốn sống, cảm xúc và tri thức nền của học sinh.
- Hoạt động chiếm lĩnh: Học sinh trực tiếp quan sát, phân tích, tương tác để hình thành tri thức, kĩ năng mới.
- Hoạt động chuyển hóa: Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào giải quyết các tình huống giao tiếp, thực hành tạo lập văn bản và áp dụng vào cuộc sống thực tế.
3. Vì sao luận án lựa chọn đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 4 và lớp 5?
Vì học sinh lớp 4, 5 là giai đoạn cuối cấp tiểu học, các em đã có sự chủ động trong việc lập kế hoạch và tham gia hoạt động; tư duy nhận thức đã phát triển, có khả năng chuyển từ thao tác cụ thể sang tư duy trừu tượng, phân tích và khái quát hóa; vốn từ và khả năng giao tiếp phát triển nhanh. Đây là giai đoạn bản lề giúp chuyển hóa năng lực tiềm ẩn thành năng lực hiện hữu làm nền tảng cho cấp trung học cơ sở.
4. Quá trình thực nghiệm sư phạm của luận án được tổ chức như thế nào?
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành qua 2 vòng (vòng 1 năm học 2016 - 2017, vòng 2 năm học 2017 - 2018) trên các lớp thực nghiệm và đối chứng có trình độ tương đương. Tác giả đã thiết kế 4 giáo án thực nghiệm (2 bài Tập đọc, 2 bài Tập làm văn) và 2 hoạt động trải nghiệm ngoài giờ học tiếng Việt bổ trợ, sau đó đánh giá kết quả qua kiểm tra và xử lí số liệu bằng thống kê toán học (kiểm định Student).
Kết luận
Luận án "Hoạt động trải nghiệm trong dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp 4, 5" của tác giả Nguyễn Thị Dung đã giải quyết đồng bộ từ cơ sở lí luận, khảo sát thực trạng đến xây dựng quy trình sư phạm ứng dụng trải nghiệm vào phân môn Tiếng Việt tiểu học. Công trình đã chứng minh tính hiệu quả của quy trình 3 giai đoạn trong việc nâng cao kết quả học tập, phát triển năng lực ngôn ngữ và tạo hứng thú học tập cho học sinh lớp 4, 5. Kết quả nghiên cứu và hệ thống giáo án thực nghiệm đóng góp tư liệu thực chứng cho việc đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Việt tiểu học theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học.