Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG TRẢI NGHIỆM 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Ngay từ thế kỉ thứ 19 tại Pháp, cuốn sách “Hướng nghiệp chọn nghề”[21] xuất bản ở Pháp vào năm 1848 đã đề cập tới xu thế phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp tạo nên và nhất thiết phải giúp đỡ thanh niên trong sự lựa chọn nghề nghiệp. Cuốn sách đã khẳng định tính cấp thiết phải giúp đỡ thanh niên, học sinh vào thế giới nghề nghiệp nhằm khai thác có hiệu quả lực lượng lao động trẻ.
Đến đầu thế kỉ 20, các tác giả Rolf Oberliesen, Helmut Keim, Michaell Schumann, Gehart Duismanm,… [23]đã có những công trình nghiên cứu về phương thức tổ chức cho thanh niên, học sinh thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh doanh, dịch vụ. Quan điểm của họ là phải tiến hành phân loại người học dựa vào khả năng học tập của từng người để định hướng cho người học trở thành công nhân lành nghề song song với việc học hết chương trình phổ thông. Vì thế người học có thể học nghề ngay khi đang học phổ thông. Bên cạnh đó, các nhà khoa học sư phạm ở Đức đã nghiên cứu những vấn đề cơ sở khoa học sư phạm của tổ chức hoạt động dạy học lao động nghề nghiệp, trong đó quan tâm đến công tác phối hợp, cộng tác chặt chẽ giữa trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp và các trường phổ thông trong việc lập kế hoạch thực tập cho người học.
Đến những năm 70 của thế kỷ 20, các nhà giáo dục Xô Viết đã làm nổi bật vai trò to lớn của hoạt động hướng nghiệp trong nhà trường nước Nga, coi đó là một trong những bộ phận quan trọng nhất của giáo dục Cộng sản chủ nghĩa, có tác dụng giúp người học tiếp nhận về mặt lý thuyết và thực tiễn về những nguyên lý cơ bản của nền sản xuất hiện đại, hình thành kĩ năng, kỹ xảo trong lao động và hướng nghiệp cho người học, tạo khả năng lựa chọn có ý thức con đường lao 7 động, xây dựng cơ sở cho việc đào tạo nghề về sau.Krupxkaia (Liên Xô) đã phát triển những nguyên lý giáo dục hướng nghiệp của V.Lenin, nhấn mạnh yêu cầu phải quán triệt nguyên lý này vào các môn học của nhà trường, giữa các môn học với nhau phải có sự quan hệ mật thiết, liên hệ với hoạt động thực tiễn và nhất là đối với môn kỹ thuật [26] Ngày nay, ở Mỹ, chương trình “Giáo dục nghề nghiệp” đã được đưa vào các cơ sở giáo dục của từng Bang và toàn Liên Bang. Chương trình này đã tạo điều kiện cho người học được tham gia vào các hoạt động khoa học công nghệ để giải quyết các vấn đề thực tế của đất nước. Allan Walker (Mỹ) trong công trình khoa học “Một số vấn đề về quản lý giáo dục ở Mỹ” đã chỉ ra rằng, các cơ sở giáo dục hiện nay không chỉ là nơi dạy lý thuyết, mà phải cung cấp cho người học một khả năng chuyển đổi thật nhanh và có sự bình đẳng trong tất cả các người học, làm cho người học vừa có kĩ năng lao động, vừa có tri thức [26] Tại Trung Quốc rất chú trọng đến giáo dục lao động kỹ thuật nghề nghiệp cho người học. Họ được học môn kỹ thuật lao động và được thực hành ngay trong trường học một số nội dung như: chế biến, gia công đồ gỗ, kim loại, lắp ráp điện, điện tử, các nghề thủ công truyền thống.
Người học được tham gia lao động tại địa phương và các nhà máy, cơ sở sản xuất dịch vụ. Trong các cơ sở giáo dục có bộ phận chuyên môn làm công tác tư vấn tâm lý và tư vấn nghề cho người học nhằm giúp họ khắc phục trở ngại về tâm lý trong quá trình học tập và định hướng chọn ngành nghề phù hợp với năng lực bản thân và thị trường lao động. Đặc biệt, giáo dục nghề nghiệp đã đưa vào nhiểu loại hình trường lớp khác nhau trong đó có các “Center Learning of Life” (Trung tâm học tập suốt đời) với các chương trình dạy nghề rất sớm. Ở đó người học vừa được trang bị học vấn phổ thông và có kĩ năng cần thiết để có thể học lên bậc đại học hoặc ra làm việc theo ngành nghề được đào tạo ngay từ khi còn học phổ thông [26].
Ở Việt Nam Công tác hướng nghiệp ở Việt Nam đã nhận được sự quan tâm của tất cả các cấp, ban ngành đoàn thể trong xã hội từ Trung ương đến các địa phương cũng 8 như các nhà quản lý giáo dục, các bậc cha mẹ học sinh và các em học sinh. Vì đây là vấn đề ảnh hướng đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, do đó Đảng đã có nhiều văn kiện, nghị quyết về giáo dục nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của việc hướng nghiệp và phân luồng học sinh các cấp nhằm góp phần giáo dục toàn diện, chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao cho thời đại kinh tế và kỉ nguyên công nghệ. Những quan điểm của Đảng về hướng nghiệp đã được cụ thể hóa bằng những Nghị quyết, Luật của Quốc hội, Nghị định, Chỉ thị của Chính phủ và các văn bản chỉ đạo của Bộ GD&ĐT. Nghị quyết Trung Ương 2 khóa VIII đã đề ra nhiệm vụ của ngành Giáo dục là cần mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục kĩ thuật tổng hợp - hướng nghiệp [8].
Nghị quyết Trung Ương 6 khóa IX tiếp tục khẳng định lại những mục tiêu và yêu cầu về giáo dục kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp [9]. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cũng có thông qua văn kiện xác định đổi mới toàn diện giáo dục đào tạo, trong đó yêu cầu dạy học phân ban và tự chọn ở cấp THPT trên cơ sở làm tốt công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh từ THCS [10]. Đặc biệt, công tác hướng nghiệp được chính thức đưa vào trường phổ thông từ ngày 19/03/1981 theo quyết định 126/CP của Chính phủ về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh trung học cơ sở, trung học phổ thông tốt nghiệp ra trường. Quyết định này nêu rõ vai trò, vị trí, nhiệm vụ công tác hướng nghiệp, phân công cụ thể chính quyền các cấp, các ngành kinh tế, văn hóa từ Trung Ương đến địa phương có nhiệm vụ tạo mọi điều kiện thuận lợi trực tiếp giúp đỡ các trường phổ thông trong việc đào tạo, sử dụng hợp lý và tiếp tục bồi dưỡng học sinh phổ thông sau khi ra trường.
Thông tư 31/TT ngày 17/8/1981 của Bộ GD&ĐT [4] có hướng dẫn thực hiện quyết định 126/CP với những nội dung về vị trí, nhiệm vụ của công tác hướng nghiệp. Trong các quan điểm chỉ đạo chiến lược phát triển GD 2001-2010 do Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 201/2001/QĐ-TTg ngày 28/12/2001, cũng có nêu rõ: “Thực 9 hiện nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”. Luật giáo dục 2005, ở Điều 27 có nêu “Mục tiêu giáo dục phổ thông là chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng bảo vệ tổ quốc”, Giáo dục THPT nhằm giúp cho học sinh có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lượng cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học lên ĐH, CĐ, TC, học nghề hoặc đi vào lao động cuộc sống” [12]; ở Điều 28 cũng có ghi: “Nội dung giáo dục phổ thông đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống”. Ngoài ra theo Chị thị 33/2003/CT-BGD&ĐT ngày 23/7/2003 cũng đã đề cập đến việc tăng cường GDHN cho học sinh [2].
Luật giáo dục 2019 đã nêu: “Giáo dục trung học phổ thông nhằm trang bị kiến thức công dân; đảm bảo cho học sinh củng cố, phát triển kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có hiểu biết thông thường về kỹ thuật, hướng nghiệp; có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục chương trình đào tạo giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [13]. Hướng nghiệp là một bộ phận quan trọng của nền giáo dục phổ thông do đó vấn đề này đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học giáo dục, có nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu, bài báo khoa học bàn về hoạt động hướng nghiệp và quản lý hoạt động hướng nghiệp. Trong những năm qua có nhiều nghiên cứu về tổ chức hoạt động hướng nghiệp ở nhiều khía cạnh khác nhau: Tác giả Phạm Tất Dong, Nguyễn Văn Hộ, Pham Huy Thụ trong đề án “Hướng nghiệp và sử dụng hợp lí học sinh ra trường” đã đề cấp đến việc hình thành các luận chứng cho hệ thống giáo dục hướng nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế, xã hội của đất nước và đề ra một số hình thức phối hợp giữa cơ sở giáo dục với các cơ sở đào tạo nghề, cơ sở sản xuất trong hướng nghiệp, dạy nghề cho người học [7]. 10 Đối với công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp được nhiều tác giả nghiên cứu trong công trình luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục như: tác giả Nguyễn Văn Toàn với “Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của Hiệu trưởng trường THPT theo hướng tạo nguồn đào tạo cán bộ xã ở huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai” năm 2007 [17].
Tác giả Ngô Tuấn Tăng “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông cho học sinh trung học tại trung tâm kĩ thật tổng hợp tỉnh Thái Nguyên” năm 2009 [14]. Tác giả Nguyễn Thị Thu “Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang” năm 2010. [18] Đối với công tác tổ chức hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp cũng chưa có nhiều công trình nghiên cứu, tuy nhiên là chủ đề thu hút những nghiên cứu có chất lượng và sâu sắc của nhiều tác giả. Trong đó, phải kể đến nghiên cứu của tác giả Bùi Ngọc Diệp về: “Hình hức tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông” [6].