Chương 1: Những vấn đề cơ bản về dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu hàng hóa tại các Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng hoạt động hỗ trợ xuất khẩu tại các Ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu hàng hóa tại các Ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ HỖ TRỢ XUẤT KHẨU HÀNG HÓA TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm và các hình thức hỗ trợ xuất khẩu Tài trợ XK hay dịch vụ hỗ trợ XK hàng trong các NHTM là các dịch vụ ngân hàng được cung cấp cho các DN và các tổ chức kinh tế để thực hiện các hoạt động đầu tư và thương mại cũng như thực hiện các giao dịch quốc tế khác. Tài trợ hay hỗ trợ xuất khẩu là một hoạt động kinh doanh của các NHTM, đồng thời cũng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế. Hỗ trợ XK của các NHTM thường được thực hiện dưới ba hình thức chính: tín dụng XK, dịch vụ thanh toán quốc tế và mua bán ngoại tệ Hỗ trợ XK hàng hoá nói riêng đã mang lại nguồn thu nhập về lãi và phí dịch vụ rất hấp dẫn cho các NHTM.
Có thể thấy rằng, chính mối quan hệ gắn bó chặt chẽ về lợi ích giữa các ngân hàng và DN kinh doanh XK là động lực mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động tài trợ ngoại thương ngày càng phát triển Hỗ trợ XK bao gồm các hoạt động mang tính chất tài trợ của ngân hàng nhằm đáp ứng những nhu cầu đặc thù về tài chính và uy tín trong kinh doanh của các doanh nghiệp XK trong quá trình thực hiện các giao dịch ngoại thương. Dịch vụ cho vay tài trợ xuất khẩu (tín dụng xuất khẩu) Thương mại quốc tế bao gồm những mối quan hệ rất đa dạng, phức tạp. Với tư cách là trung gian tài chính, ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho hoạt động XK diễn ra liên tục nhanh chóng, thuận lợi cho cả nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu. Dựa trên các tiêu chí ta có thể chia tín dụng XK ra thành các hình thức như sau: 1.
Cho vay trong khuôn khổ thanh toán bằng L/C Thư tín dụng (L/C) là một văn bản pháp lý trong đó một ngân hàng cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho nhà xuất khẩu hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với quy định đề ra trong thư tín dụng [12]. 8 - Cho vay thực hiện hàng xuất khẩu theo L/C đã mở trên cơ sở L/C đã được chấp nhận do ngân hàng mở L/C phát hành theo yêu cầu của nhà nhập khẩu. Ngân hàng có thể cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu để tiêu thụ sản phẩm và có thể thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. - Cho vay chiết khấu hoặc ứng trước tiền hàng xuất khẩu: Để đáp ứng nhu cầu vốn, nhà xuất khẩu sau khi giao hàng xong có thể thương lượng với ngân hàng thực hiện chiết khấu bộ chứng từ hoặc ứng trước tiền cho mình trước khi bộ chứng từ được thanh toán.
Cho vay trong khuôn khổ phương thức nhờ thu kèm chứng từ Nhờ thu đi trong thanh toán hàng xuất khẩu: Ngân hàng cho vay thu mua, sản xuất hàng xuất khẩu, chiết khấu hoặc ứng trước bộ chứng từ hàng xuất khẩu. Cho vay trên cơ sở hối phiếu Trong kinh doanh ngoại thương hối phiếu đóng vai trò rất quan trọng, trên cơ sở hối phiếu ngân hàng có các hình thức cho vay sau: 1. Chiết khấu hối phiếu Chiết khấu hối phiếu là một loại tín dụng ngân hàng cung cấp cho khách hàng dưới hình thức mua lại hối phiếu trước khi nó đến hạn thanh toán, tức là ngân hàng mua lại khoản nợ phải đòi. Chiết khấu hối phiếu tạo điều kiện cho nhà xuất khẩu nhận được tiền sớm hơn nhằm đáp ứng được nhu cầu về vốn đối với khoản tín dụng cung ứng hàng mà anh ta cấp cho nhà nhập khẩu.
Đối với ngân hàng, kể từ khi ký chấp nhận trả tiền hối phiếu cũng chính là thời điểm bắt đầu gánh chịu rủi ro nếu như bên mua không có tiền thanh toán cho bên bán khi hối phiếu đến hạn thanh toán. Đương nhiên nếu đến hạn thanh toán hối phiếu, bên mua có đủ tiền thì ngân hàng thực sự không phải ứng tiền ra. Như vậy, khoản tín dụng này chỉ là hình thức, là một sự đảm bảo về tài chính. Trong trường hợp này, ngân hàng sẽ chỉ nhận được một khoản phí chấp nhận, khoản tiền bù đắp cho chi phí gánh chịu rủi ro tín dụng mà thôi.
Dịch vụ mua bán ngoại tệ với khách hàng 9 Tuỳ theo mô hình tổ chức và việc phân định trách nhiệm, phân cấp uỷ quyền của từng ngân hàng, bộ phận mua bán ngoại tệ của các NHTM có thể đặt tại phòng TTQT, hoặc phòng dịch vụ khách hàng. Việc quản lý trạng thái và xác định tỷ giá hàng ngày có thể do các phòng dịch vụ hoặc do một bộ phận độc lập tại phòng kê hoạch tổng hợp thực hiện. Việc mua bán ngoại tệ với khách hàng về cơ bản đươc thực hiện theo các bước sau: 1.1 Mua bán ngoại tệ giao ngay Mua, bán theo tỷ giá niêm yết: Trên cơ sở uỷ nhiệm chi với nội dung chuyển đổi ngoại tệ của khách hàng, Bộ phận mua bán ngoại tệ hạch toán mua ngoại tệ của khách hàng vào báo có VNĐ cho khách. Bán ngoại tệ cho khách hàng trên cơ sở bộ hồ sơ mua ngoại tệ hợp pháp, hợp lệ, tuân thủ qui đinh của nhà nước về quản lý ngoại hối.
Đối với các giao dịch mua bán khác tỷ giá niêm yết (khách hàng và ngân hàng có thể thoả thuận một mức giá riêng) sau khi thống nhất tỷ giá, khách hàng và ngân hàng lập xác nhận mua bán ngoại tệ (trong đó qui định rõ loại giao dịch, số tiền và tỷ giá), thực hiện hạch toán mua, bán theo qui định.2 Mua bán ngoại tệ kỳ hạn Trên cơ sở nhu cầu và đề nghị của khách hàng, các ngân hàng xác định tỷ giá kỳ hạn phù hợp và lập hợp đồng, hoặc xác nhận mua bán kỳ hạn nêu rõ loại kỳ hạn, số tiền mua bán, tỷ giá kỳ hạn và ngày thanh toán. Vào ngày thực hiện giao dịch các ngân hàng phải hạch toán ngoại bảng các cam kết mua bán kỳ hạn với khách hàng. Đến hạn thanh toán qui định trong hợp đồng, ngân hàng và khách hàng thực hiện chuyển tiền, Ngân hàng xuất toán ngoại bảng số tiền cam kết mua bán kỳ hạn.3 Mua bán ngoại tệ quyền chọn. Trên cơ sở nhu cầu và đề nghị của khách hàng, các ngân hàng tìm kiếm các hợp đồng quyền chọn đối ứng với đối tác (trên thị trường thanh toán liên ngân hàng) xác định tỷ giá cho giao dịch quyền chọn và chào phí giao dịch, nếu khách hàng chấp nhận 2 bên tiến hành ký hợp đồng, nêu rõ hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ hay 10 kiểu Châu Âu, kỳ hạn, số tiền mua bán, tỷ giá quyền chọn và thời điểm cuối cùng khách hàng có thể thực hiện quyền.
Vào ngày thực hiện giao dịch các ngân hàng phải hạch toán ngoại bảng các cam kết mua bán quyền chọn với khách hàng và thu phí giao dịch của khách hàng. Trong thời hạn qui định, nếu khách hàng quyết định thực hiện quyền của mình, ngân hàng và khách hàng thực hiện thanh toán theo hợp đồng, ngân hàng xuất toán ngoại bảng và tất toán hợp đồng. Hết thời hạn qui định, khách hàng không thông báo thực hiện quyền, coi như hợp đồng được tất toán.3 Dịch vụ thanh toán quốc tế (đối với hàng XK) 1.1 Theo phương thức L/C Theo thời gian thực hiện LC chúng ta có thể chia thành 3 giai đoạn: - Ngay sau khi nhận được thông báo LC đã mở của Nhà xuất khảu: Cho vay thực hiện hàng xuất khẩu theo L/C đã mở Mục đích của tín dụng Ngân hàng lần này là thực hiện hàng XK. Doanh nghiệp có thể đi vay để thu mua hàng trong nước hoặc vay vốn để nhập khẩu hàng từ nước ngoài.
- Sau khi có bộ chứng từ thanh toán nhưng chưa xuất trình cho Ngân hàng để thanh toán - Cho vay chiết khấu hoặc ứng trước chứng từ hàng xuất khẩu: Ý nghĩa của hoạt động chiết khấu của ngân hàng: Tài trợ vốn lưu động cho người xuất khẩu để đảm bảo sản xuất kinh doanh liên tục, không bị gián đoạn trong thời gian chờ người nhập khẩu nước ngoài thanh toán tiền hàng. Phạm vi chiết khấu bộ chứng từ thường chỉ áp dụng trong phương thức thanh toán quốc tế tín dụng chứng từ, do phương thức này có sự ràng buộc chặt chẽ việc giao hàng của người xuất khẩu và trách nhiệm thanh toán của người nhập khẩu thông qua các ngân hàng phục vụ các bên, rủi ro thấp so với các phương thức thanh toán quốc tế khác [12] - Khi người xuất khẩu đã xuất trình bộ chứng từ thanh toán cho Ngân hàng - Tín dụng thanh toán trước tiền trước khi bộ chứng từ được thanh toán: 11 Việc cấp vốn tín dụng ứng trước tiền trước khi bộ chứng từ được thanh toán phụ thuộc vào các yếu tố sau: + Khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu; + Khả năng thanh toán của Bộ chứng từ + Khả năng cạnh tranh của hàng hoá và giá trị của hàng hoá dự kiến; + Chính sách kinh tế và chính sách chính trị của nước nhập khẩu đối với ngân hàng nhà xuất khẩu; + Những rủi ro về tỷ giá hối đoái Ngân hàng vẫn có quyền truy đòi đối với người XK khi bộ chứng từ gửi đi không thu được tiền.2 Theo phương thức nhờ thu Nhờ thu đi trong thanh toán hàng xuất khẩu: Nhà xuất khẩu có thể chuyển nhượng quyền lợi từ sự uỷ nhiệm cho ngân hàng thu chứng từ, và nếu ngân hàng chấp nhận ứng trước tiền hàng trước khi thu tiền về từ ngân hàng nước ngoài (ngân hàng nhà nhập khẩu) thì có nghĩa là tài trợ cho nhà XK một khoản tín dụng tương đương với giá trị của khoản chuyển nhượng. Nhưng giá trị của khoản chuyển nhượng này phụ thuộc rất lớn vào khả năng thanh toán của người vay tín dụng vì không có sự bảo đảm chắc chắn rằng các chứng từ của người xuất khẩu sẽ được người phải thanh toán (người nhập khẩu) chấp nhận và được thanh toán; và nó phụ thuộc vào giá trị hàng hóa được thanh toán và ý chí của người nhập khẩu.