Chương 1 HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM TỪ THÁNG 12-1960 ĐẾN THÁNG 5-1969 1. Hoàn cảnh lịch sử và chủ trƣơng của Đảng 1. Hoàn cảnh lịch sử Tình hình thế giới Xu hướng hòa bình – trung lập trên thế giới sau năm Chiến tranh thế giới thứ II. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ II, nguyện vọng l ớn của nhân dân thế giới là hòa bình.
Xu hướng chung là giữ nguyên trạng châu Âu và nguyên trạng thế giới, không làm thay đổi bàn cờ chính trị quốc tế. Sau Chiến tranh thế giới thứ II, trên thế giới có nhiều quốc gia bị chia cắt (Đức, Trung Quốc, Triều Tiên), nhưng do quan niệm cân bằng quyền lực, không ở đâu có chủ trương đấu tranh cách mạng để thống nhất đất nước. Trên thế giới lúc đó cũng xuất hiện xu hướng hoà bình, trung lập. “Các nước theo chính sách trung lập, chính quyền thuộc về tay giai cấp tư sản, tuy cũng chống đế quốc nhưng cũng không thích - thậm chí chống lại - phe xã hội chủ nghĩa”.
Thái độ cơ bản và lâu dài của họ là “dựa vào cả hai phe và lợi dụng cả hai phe”. “Tình hình giằng co ấy trên thế giới không thể không ảnh hưởng đến tương quan lực lượng ở miền Nam Việt Nam” [8, tr. Từ khi cuộc Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), thực chất là một cuộc đọ sức giữa hai phe kết thúc mà không phân thắng bại, các nước lớn đều cho rằng tương quan lực lượng quốc tế đang ở thế cân bằng. Xu thế hòa hoãn xuất hiện.
Tiếp sau Chiến tranh ở Triều Tiên, cuộc chiến tranh ở Đông Dương (1945-1954) chấm dứt, làm cho những điểm nóng ở châu Á có liên quan tới các nước lớn và hai phe tạm thời được giải quyết, nhưng trên thế giới chiến tranh lạnh và chạy đua vũ trang vẫn diễn ra gay gắt. Ở châu Âu, hình thành hai liên minh quân sự và kinh tế đối lập nhau. Hai nhà nước Đức ra đời. Hệ thống Xã hội chủ nghĩa hình thành và phát triển.
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, phe xã hội chủ nghĩa hình thành và được củng cố, những năm 50 của thế kỷ XX, các nước đều tập trung thực hiện những kế hoạch kinh tế - xã hội dài hạn, thiết lập liên minh chính trị - kinh tế (Hội đồng tương trợ kinh tế - SEV) và liên minh quân sự (Khối Hiệp ước phòng thủ Varsava). Phong 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trào giải phóng dân tộc ngày càng dâng cao ở các nước Á, Phi và Mỹ latinh. Cuộc đấu tranh cho hòa bình, dân chủ và tiến bộ diễn ra liên tiếp ngay tại các nước tư bản chủ nghĩa. Trung Quốc tập trung thực hiện kế hoạch 5 năm và giải quyết những công việc nội bộ, e ngại việc Mỹ có thể tiếp tục can thiệp vào khu vực, làm cho tình hình căng thẳng và đe dọa an ninh của Trung Quốc.
Trung Quốc tích cực giúp đỡ Việt Nam trong công cuộc xây dựng miền Bắc, nhưng chưa thể ủng hộ đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Theo Trung Quốc, Hiệp định Giơnevơ đã tạo ra tiền đề chính trị tốt hơn cho Việt Nam so với tình hình Đức và Triều Tiên, và Việt Nam đã giành được thế chủ động. Miền Bắc có thể xây dựng chủ nghĩa xã hội và thông qua đấu tranh lâu dài để ảnh hưởng và tranh thủ miền Nam. Cũng như Trung Quốc, Liên Xô giúp Việt Nam thực hiện các kế hoạch ba năm 1955-1957 và 1958-1960 ở miền Bắc, nhưng không ủng hộ đấu tranh vũ trang ở miền Nam.
Khơrútsốp chủ trương “thi đua hòa bình”, hòa hoãn với Mỹ, trong lúc Mỹ đang nhảy vào thay chân Pháp ở miền Nam Việt Nam, cùng thời điểm xảy ra những vụ bạo động ở Ba Lan và Hunggari (1956). Đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô (1956) nhận định: 1- Tất cả các cuộc xung đột trên thế giới đều có thể giải quyết bằng cách thương lượng hòa bình, 2- Phong trào cách mạng trong nhiều nước có thể tiến triển hòa bình được. Đại hội đề ra đường lối “tam hòa” (“cùng tồn tại hòa bình”, “quá độ hòa bình”, “thi đua hòa bình”). Trọng tâm chiến lược của Liên Xô lúc đó là châu Âu, tập trung củng cố Đông Âu.
Vì lợi ích của mình, Liên Xô coi nhiệm vụ chiến lược hàng đầu là thực hiện hòa hoãn Đông - Tây, tránh đối đầu với Mỹ, giữ nguyên trạng châu Âu và nguyên trạng thế giới, tranh thủ vốn và kỹ thuật của Mỹ và các nước phương Tây, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Liên Xô lo ngại sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc cản trở hòa hoãn, ảnh hưởng đến mục tiêu chiến lược của Liên Xô. Điều đáng chú ý là vào những năm 1954-1959, Liên Xô quan hệ với Việt Nam có phần dè dặt, thận trọng hơn so với các nước khác. Trong một thời gian dài các phương tiện thông tin đại chúng của Liên Xô không trực tiếp lên án những hành động của chính quyền Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam Việt Nam.
Chủ trương của Liên Xô là giữ nguyên trạng Việt Nam; tập trung xây dựng miền Bắc 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vững mạnh để động viên đấu tranh chính trị, giải quyết vấn đề miền Nam thông qua con đường thương lượng hòa bình. Mặc dù trong phe xã hội chủ nghĩa có những bất đồng, nhưng vẫn còn giữ được sự thống nhất, đặc biệt là vấn đề bảo vệ hòa bình, vì càng tranh thủ giữ vững hòa bình được lâu dài thì càng có điều kiện thuận lợi để tăng cường mau chóng lực lượng. Tháng 11-1957, Hội nghị 64 Đảng Cộng sản họp tại Matxcơva, tổng kết các quy luật của chủ nghĩa xã hội, ra tuyên bố kêu gọi nhân dân thế giới đấu tranh chống nguy cơ chiến tranh. Tuyên bố của Hội nghị nêu rõ: “Ngày nay, đấu tranh cho hoà bình và cho sự chung sống hoà bình đã trở thành yêu cầu của những tầng lớp quần chúng đông đảo nhất ở tất cả các nước trên thế giới.
Các đảng cộng sản coi cuộc đấu tranh cho hoà bình là nhiệm vụ hàng đầu của mình. Cùng tất cả các lực lượng yêu chuộng hoà bình, các đảng cộng sản sẽ làm tất cả mọi việc theo khả năng của mình để ngăn ngừa chiến tranh” [37, tr. Trong lúc Mỹ công khai tuyên bố ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản lan xuống Đông Nam Á; xu thế hoà bình, trung lập phát triển ở nhiều nơi, cả Liên Xô và Trung Quốc đều lo sợ “đốm lửa cháy rừng”, chiến tranh nổ ra ở miền Nam Việt Nam có thể lan rộng thành chiến tranh thế giới. Điều đó sẽ rất nguy hiểm.
Vì thế hai nước lớn trong phe xã hội chủ nghĩa đều thuyết phục Việt Nam chấp nhận sự chia cắt đất nước lâu dài. Sự bất đồng trong phe Xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là quan hệ Xô – Trung. Tình hình thế giới cũng có những diễn biến rất phức tạp. Bất đồng giữa một số Đảng cộng sản và công nhân quốc tế ngày càng sâu sắc và bộc lộ công khai, nhất là bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc.
Sự mất đoàn kết trong nội bộ phe xã hội chủ nghĩa, nhất là mâu thuẫn Trung - Xô được Mỹ lợi dụng triệt để nhằm phá hoại phong trào cách mạng thế giới, chia rẽ, gây mất ổn định chính trị và làm suy yếu lực lượng chủ nghĩa xã hội, đồng thời hạn chế sự giúp đỡ của phe xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô và Trung Quốc đối với Việt Nam, nơi đang diễn ra cuộc đấu tranh chống sự xâm lược của Mỹ. Trong tình hình đó, Việt Nam không thể trông chờ vào sự đồng thuận trong phe xã hội chủ nghĩa như một sự hợp sức, thống nhất hành động giúp đỡ cách mạng Việt Nam. Vấn đề lúc đó chỉ có thể là tranh thủ sự giúp đỡ của từng nước. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tình hình trong nước Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam kết thúc thắng lợi với chiến dịch Điện Biên Phủ và sự ký kết Hiệp đinh Giơnevơ về Đông Dương (21-7- 1954).
Ranh giới quân sự tạm thời là vĩ tuyến 17, thời hạn tổng tuyển cử là hai năm. Nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và bước vào thời kỳ xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa theo hướng chủ nghĩa xã hội, củng cố và tăng cường an ninh - quốc phòng, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước. Lẽ ra sau hai năm, khi quân Pháp rút hết khỏi miền Nam, nhân dân Việt Nam sẽ Tổng tuyển cử thống nhất đất nước.
Nhưng Mỹ đã vào thay chân Pháp, chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam thành một quốc gia riêng biệt thân Mỹ, nằm trong “thế giới tự do”, đối lập với “phe cộng sản”. Đế quốc Mỹ trở thành đối tượng trực tiếp của cách mạng Việt Nam. Mục tiêu trực tiếp của Mỹ trong việc can thiệp vào Việt Nam và tiến hành cuộc chiến tranh dài ngày nhất trong lịch sử nước Mỹ là xóa bỏ một chế độ chính trị trong hệ thống thế giới mới đang hình thành. “Chính quyền Aixenhao kiên quyết tạo dựng miền Nam Việt Nam thành một quốc gia mà sau này sẽ là thành trì chống chủ nghĩa cộng sản và làm cơ sở để chứng minh cho “nền dân chủ” ở châu Á” [53, tr.
Thực hiện ý đồ của Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm khước từ hiệp thương tổng tuyển cử với miền Bắc để thống nhất đất nước, tổ chức “trưng cầu dân ý”, phế truất Bảo Đại, đưa Ngô Đình Diệm lên vị trí tổng thống, tổ chức bầu cử riêng rẽ ở miền Nam, thành lập cái gọi là “Việt Nam cộng hoà”. Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm tập trung mọi lực lượng, vừa dụ dỗ, lừa bịp, vừa đàn áp, khủng bố quần chúng bằng nhiều thủ đoạn thâm độc; thi hành chính sách “tố cộng”, “diệt cộng”, lập “khu trù mật”, “khu dinh điền” nhằm đánh vào cơ sở của Đảng Cộng sản, trả thù những người yêu nước, nhất là những người tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp trước đây và những gia đình có người thân đi tập kết ở miền Bắc. Đất nước bị chia cắt, ước mơ của nhân dân Việt về gia đình được đoàn tụ sau 2 năm với cuộc tổng tuyển cử tự do, bị chế độ thực dân mới chôn vùi. Lòng uất hận căm thù của nhân dân Việt Nam nói chung, nhân dân miền Nam nói riêng đối với đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn ngày càng “dâng cao như núi”, “tràn đầy như biển cả”.