phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung của đề tài gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề Lý luận về hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ trẻ em khuyết tật vận động Chƣơng 2: Hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ trẻ em khuyết tật vận động và các yếu tố ảnh hƣởng tại quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ trẻ em khuyết tật vận động tại quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội. 12 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ TRẺ EM KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG 1. Một số khái niệm có liên quan 1.
Khái niệm khuyết tật Định nghĩa về khuyết tật theo cuốn Từ điển Tiếng Việt: từ “khuyết” có nghĩa là không đầy đủ, thiếu một bộ phận, một phần. Từ “tật” có nghĩa là có “điều gì đó không đƣợc bình thƣờng, ít nhiều khó chữa ở vật liệu, dụng cụ, máy móc. Còn ở ngƣời là sự bất thƣờng, nói chung không thể chữa đƣợc, của một cơ quan trong cơ thể do bẩm sinh mà có, hoặc do tai nạn hay bệnh gây ra” Định nghĩa này chỉ ra rằng khuyết tật là khiếm khuyết thực thể ở một bộ phận nào đó hoặc khiếm khuyết về chức năng của một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức của cơ thể và khiếm khuyết đó có thể ảnh hƣởng nghiêm trọng đến cuộc sống. Hiện nay, trong các văn bản pháp quy cụm từ “khuyết tật” dần đƣợc sử dụng thay cho cụm từ “tàn tật” bởi sử dụng hai từ “khuyết tật” nghe nhẹ nhàng hơn, mang ý nghĩa nhân văn hơn hai từ “tàn tật”.Từ “khuyết” mang ý nghĩa chỉ suy giảm một chức năng nào đó, còn các chức năng khác vẫn hoạt động bình thƣờng.
Theo Điều 3 Luật NKT Việt Nam: Có 6 nhóm khuyết tật [14] Khuyết tật vận động: Là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển. Khuyết tật nghe, nói: Là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói. Khuyết tật nhìn: Là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trƣờng bình thƣờng. Khuyết tật thần kinh, tâm thần: là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với lời nói, hành động bất thƣờng.
13 Khuyết tật trí tuệ: Là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tƣ duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tƣợng, giải quyết sự việc. Khuyết tật khác: là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trƣờng hợp đƣợc quy định ở trên. Cũng theo Điều 3 Luật NKT quy định mức độ khuyết tật nhƣ sau: Người khuyết tật đặc biệt nặng: là do khuyết tật không thể thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày. Người khuyết tật nặng: là ngƣời khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày.
Người khuyết tật nhẹ: là ngƣời khuyết tật không quy định ở hai nội dung trên và ngƣời khuyết tật nhẹ chỉ cần sự trợ giúp nhỏ. Khái niệm trẻ em Theo quan điểm của một số tổ chức quốc tế trực thuộc Liên hiệp quốc nhƣ Quỹ Dân số (UNFPA), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO) xác định trẻ em là ngƣời dƣới 15 tuổi. Công ƣớc Quốc tế về Quyền trẻ em của Liên hiệp quốc công bố năm 1989 xác định “Trong phạm vi công ƣớc này, trẻ em có nghĩa là dƣới 18 tuổi, trừ trƣờng hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi sớm hơn”. Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi vận dụng khái niệm trẻ em theo Luật Trẻ em vừa đƣợc kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 5/4/2016 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 6 năm 2017.
Tại điều 1 của Luật trẻ định nghĩa rằng “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” (Luật trẻ em, 2016). Khái niệm trẻ em khuyết tật và trẻ em khuyết tật vận động *Khái niệm trẻ em khuyết tật Trẻ em khuyết tật là những trẻ em bị tổn thƣơng về cơ thể hoặc rối loạn 14 các chức năng nhất định gây nên những khó khăn đặc thù trong các hoạt động học tập, vui chơi và lao động. *Khái niệm trẻ em khuyết tật vận động Khuyết tật vận động là một trong những dạng khuyết tật rất phổ biến. Đó là tình trạng giảm hoặc mất chức năng đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển.
Trẻ em khuyết tật vận động là những trẻ em do các nguyên nhân khác nhau gây ra sự tổn thất các chức năng vận động làm cản trở đến việc di chuyển, sinh hoạt và học tập… Trẻ em khuyết tật vận động gồm có hai dạng: Một là trẻ em khuyết tật vận động do chấn thƣơng nhẹ hay do bệnh bại liệt gây ra làm què, cụt, khèo, liệt chân, tay. Hai là trẻ em khuyết tật vận động do tổn thƣơng trung khu vận động não bộ. Đối với dạng thứ nhất thì những trẻ em này vẫn có một bộ máy sinh học bình thƣờng làm cơ sở vật chất thực hiện hoạt động nhận thức. Nói cách khác, khi trẻ có khiếm khuyết đơn thuần về vận động thì trẻ hoàn toàn có khả năng nhận thức nhƣ những trẻ bình thƣờng khác.
Tuy nhiên, sự phát triển hoạt động nhận thức của trẻ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tham gia các hoạt động trong môi trƣờng xung quanh. Trẻ khuyết tật vận động khó đạt đƣợc trình độ nhận thức cũng nhƣ những trải nghiệm nhƣ mọi trẻ bình thƣờng khác. Chẳng hạn, trẻ không thể có cảm giác mỏi chân nếu trẻ bại liệt đôi chân không thể đi đƣợc, không thể leo trèo đƣợc thì khó có cảm giác về độ cao và kĩ năng lấy thăng bằng của cơ thể, không có cảm giác về sức đẩy của nƣớc nếu không đƣợc ngâm mình trong nƣớc… Đối với dạng thứ hai thì sự tổn thƣơng về não bộ gây rất nhiều cản trở cho hoạt động nhận thức của trẻ, thậm chí là trình độ nhận thức ở mức độ nặng. Hoạt động nhận thức của loại trẻ này cũng có những hạn chế tƣơng tự 15 nhƣ trẻ chậm phát triển trí tuệ và còn bị ảnh hƣởng thêm của khuyết tật vận động.
Song cũng cần lƣu ý những trƣờng hợp khuyết tật vận động do bại não gây nên thì hoạt động nhận thức của trẻ hầu nhƣ không bị ảnh hƣởng song trẻ khó có thể biểu đạt đƣợc suy nghĩ, hành động, lời nói một cách bình thƣờng do sự cản trở của khuyết tật vận động. Đặc điểm tâm lý của trẻ em khuyết tật vận động Trẻ em khuyết tật vận động dễ bị kích động, khó kiểm soát phản ứng do bị phân biệt đối xử và thiếu tôn trọng. Ngoài ra TKTVĐ thƣờng có tâm lý mặc cảm tự ti. Luôn cho rằng số phận mình không đƣợc may mắn, là gánh nặng cho ngƣời thân, gia đình.
Do đó họ thƣờng sống khép kín, ngại giao tiếp với mọi ngƣời. Trong quá trình tƣơng tác với ngƣời khác trong gia đình, cộng đồng họ thƣờng có cảm xúc buồn, thất vọng và hay tự ái. Nếu sống trong những gia đình khó khăn thƣờng NKT có cảm giác bị bỏ rơi. - Biểu hiện qua nhận thức: Trẻ em khuyết tật vận động cho rằng mình mình bị ngƣời khác coi thƣờng, thiếu tôn trọng, không thừa nhận họ, nhận thức bị bóp méo, xuyên tạc, không phản ánh hiện thực khách quan.
Trẻ em khuyết tật vận động thấy mình là nạn nhân của các dịch vụ không thể tiếp cận đƣợc, của sự phân biệt hơn là làm chủ bản thân và ít khi quyết định đƣợc vận mệnh của mình. Trẻ em khuyết tật vận động có mặc cảm không nhận thức đƣợc nhu cầu đích thực của mình là gì, không biết mình thực sự là ai, nhìn mình và ngƣời khác có chiều hƣớng tiêu cực. Mọi tình huống trong xã hội, họ bị cản trở về đi lại nên cảm thấy mình thua thiệt, bất hạnh và cô đơn. - Biểu hiện qua xúc cảm: Tình cảm luôn cảm thấy mình thua thiệt và bất hạnh, luôn cảm giác mình là gánh nặng của gia đình và xã hội, có những dự đoán bi quan và luôn sống 16 trong sợ hãi.
Khi có những khó khăn trong việc đi lại, tiếp cận giao thông hay công trình công cộng đều có tƣ tƣởng đổ lỗi hoặc đi từ cảm xúc oán trách này đến oán trách khác. - Biểu hiện qua hành vi Không phát huy khả năng của bản thân, có thể dẫn đến hủy hoại bản thân, ngại giao tiếp, chỉ thích ngồi, ngại đi lại, sợ đám đông, trong mối quan hệ xã hội thấy rõ sự thua kém. Khi ở trong hoàn cảnh khó khăn, các em thƣờng có những phản ứng nhƣ: Thƣờng ở trong tâm trạng lo lắng, sợ hãi; Thƣờng tự ti, mặc cảm, né tránh giao tiếp khiến trẻ khuyết tật khó tạo lập quan hệ xã hội; Hay nhớ lại những sự kiện bạo lực, những hình ảnh xấu; Dễ có giá trị, suy nghĩ, hay nhận định sai lệch; Dễ có những hành vi chống đối nhƣ ăn cắp, lừa dối. và cho đó là cách thức để tồn tại; Thƣờng hay cáu giận, bực tức; Khó khăn trong hoà nhập với môi trƣờng xung quanh; Dễ có xung đọt với bố mẹ, anh chị em, ông bà… trong gia đình hay có cảm giác cô đơn, bị mọi ngƣời xa lánh; Dễ có nghi ngờ những ngƣời xung quanh; Tinh thần bị suy sụp do mất mát, tổn thƣơng trẻ phải trải qua.
Nhu cầu của trẻ em khuyết tật vận động Mọi trẻ em sinh ra và lớn lên trong xã hội loài ngƣời đều có những nhu cầu cơ bản về cơ thể, sự an toàn (Bậc thang nhu cầu cơ bản của Maslow) và những khả năng nhất định (thuyết đa năng lực của Gardner). TEKT cũng có nhu cầu cơ bản và khả năng nhất định. Tuy ở những mức độ khác nhau so với trẻ em bình thƣờng, đầu tiên có thể kể đến những nhu cầu cơ bản: Nhu cầu cơ 17 thể ( ăn, uống, ngủ…), nhu cầu cảm giác an toàn, nhu cầu cảm giác tiếp xúc, nhu cầu về đồ vật… đƣợc thể hiện bằng tiếng khóc, tiếng bập bẹ, tiếng cƣời, ánh mắt, cử động của cơ thể.