CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THIẾT KẾ SẢN PHẨM DỊCH VỤ 1.1 Các khái niệm và đặc điểm của sản phẩm dịch vụ.1 Khái niệm dịch vụ Dịch vụ có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Điều này càng đúng hơn trong một nền kinh tế hàng hóa đã phát triển mạnh, ngành công nghiệp phát triển đa dạng và nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng phong phú. Cùng với tiến trình hội nhập của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế khu vực và thế giới, khu vực dịch vụ càng có cơ hội phát triển mạnh mẽ và đa dạng hơn. Với tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm luôn duy trì ở mức cao ở mức 7,5 - 8,5%, các lĩnh vực thuộc khu vực kinh tế dịch vụ tại Việt Nam ngày càng có sự đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế, cũng như tạo nhiều việc làm cho người lao động.
Chính vì vậy mà việc hiểu đúng bản chất và đánh giá đúng tầm quan trọng của dịch vụ để từ đó xây dựng các cơ chế cho sự vận hành và phát triển của lĩnh vực dịch vụ là hết sức quan trọng. Cho đến nay chưa có một định nghĩa nào về dịch vụ được chấp nhận trên phạm vi toàn cầu. Tính vô hình và khó nắm bắt của dịch vụ, sự đa dạng, phức tạp của các loại hình dịch vụ làm cho việc định nghĩa dịch vụ trở nên khó khăn. Hơn nữa, các quốc gia khác nhau có cách hiểu về dịch vụ không giống nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Theo Philip Kotler: "Dịch vụ là một loại hoạt động hay lợi ích mà một thành viên có thể cung cấp cho thành viên khác, nhất thiết phải mang tính vô hình và không dẫn đến sở hữu một vật phẩm cụ thể nào cả"1. Lưu Xuân Bình (2001), Marketing - Lý thuyết và Vận dụng. Nxb Khoa học - Xã hội. Hoặc có thể phát biểu theo một cách khác: "Dịch vụ là một loại sản phẩm đặc biệt được cung ứng cho khách hàng mục tiêu mà khi mua hoặc khi nhận người ta không thể nhìn thấy chúng” Dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu.
Sản phẩm dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi của sản phẩm vật chất. Dịch vụ Viễn thông có thể được định nghĩa như sau: là dịch vụ cung cấp cho khách hàng khả năng trao đổi thông tin với nhau hoặc thu nhận thông tin thông qua mạng viễn thông của các nhà cung cấp dịch vụ hạ tầng mạng. Viễn thông có rất nhiều loại hình dịch vụ từ các dich vụ truyền thống đến các ứng dụng giá trị gia tăng trên nền Mobile như ngày nay.1: Các dịch vụ phát triển trên nền Mobile. Hình 1: Tổng quan về dịch vụ viễn thông – Học viện công nghệ Bưu chính Viễn thông 11 Theo lý thuyết về dịch vụ thì người ta chia thành ba mức độ: dịch vụ cốt lõi, dịch vụ giá trị gia tăng, dịch vụ hoàn thỉnh.
Hình 2: Các mức độ của dịch vụ 1. Các mức độ của dịch vụ Dịch vụ cốt lõi là dịch vụ cơ bản chủ yếu mà doanh nghiệp cung cấp ra thị trường. Dịch vụ cơ bản quyết định bản chất của dịch vụ nhwof đó mà quy định dịch vụ loại này chứ không phải là dịch vụ loại khác. Dịch vụ bao quanh – dịch vụ giá trị gia tăng: là các dịch vụ phụ, nó tạo ra các dịch vụ phụ thêm cho khách hàng giúp khách hàng có sự cảm nhận tốt hơn về vụ cốt lõi.
Dịch vụ hoàn chỉnh hay còn gọi là dịch vụ bao quanh là sự kết hợp giữa dịch vụ gia tăng và dịch vụ cốt lõi cùng với sự thêm vào các dịch vụ khác để làm tăng thêm sự khác biệt và sự hài long của khách hàng. Dịch vụ hoàn chỉnh rất quan trọng đối với các nhà quản lý và Marketing nhờ nó mà khách hàng cảm nhận được sự khác biệt dịch vụ này với dịch vụ khác tạo ra lợi thế thu hút lôi kéo khách hàng. Đặc điểm của dịch vụ viễn thông Trước hết chúng ta cần phải xác định được vị trí của dịch vụ trong mạng viễn thông. Thông qua hinh vẽ sau: Hình 1.3 Vị trí của dịch vụ Cung câp dịch vụ là khâu then chốt quyết định trng việc kinh doanh, vì đây là đầu mối làm việc trực tiếp với khách hàng và truyền thông các sản phẩm dịch vụ cũng như chăm sóc khách hàng là nơi khách hàng có cảm nhận về sản phẩm dịch vụ của các nhà mạng.
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, dịch vụ viễn thông ngày càng phong phú và đa dạng khác nhau các dịch vụ viễn thông có thể nói phát triển theo tuần, tuy nhiên có thể chia ra thành hai nhóm sau: Nhóm 1: Dịch vụ cơ bản là các dịch vụ truyền đưa tức thời dịch vụ viễn thông qua mạng viễn thông hoặc internet mà không làm thay đổi loại hình hoặc nội dung tin. Bao gồm nội hạt, đường dài liên tỉnh và quốc tế, các dịch vụ nhắn tin, telex… trong đó các dịch vụ có cạnh tranh mạnh là dịch vụ đường dài liên tỉnh và quốc tế… Nhóm 2: Các dịch vụ giá trị gia tăng là dịch vụ làm tăng thêm giá trị thông tin của người sử dụng bằng cách hoàn thiện loại hình, nội dung thông tin hoặc cung cấp khả năng lưu trữ, khôi phục thông tin đó trên cơ sở dụng 13 mạng viễn thông hoặc internet. Bao gồm: dịch vụ internet, các dịch vụ gia tăng trên nền dịch vụ truyền thống đặc biệt là các nhà mạng di động. Do dịch vụ viễn thông là một trong những loại hình dịch vụ nói chung nên bản thân nó có những đặc điểm chung của dịch vụ: - Tính vô hình (Intangibility) Dịch vụ viễn thông là hiệu qủa có ích của quá trình truyền tin tức từ người gửi đến người nhận.
Dịch vụ viễn thông không phải là vật thể mới, không phải là sản phẩm hữu hình, không thể lưu giữ trong kho, không thể thu hồi cho vào tái sản xuất như những ngành sản xuất hàng hoá; dịch vụ không chấp nhận thứ phẩm, nên các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông phải thường xuyên dự trữ một lượng khá lớn năng lực sản xuất và lao động để đáp ứng được nhu cầu vào lúc cao điểm, nhưng lại để lại nhàn rỗi khi nhu cầu xuống thấp. Tuy nhiên, tính vô hình của dịch vụ được biểu lộ qua yếu tố vật chất nào đó và đó chính là những phương tiện chuyển giao dịch vụ cho khách hàng. - Tính không chia cắt được (Inseparability) Dịch vụ viễn thông phải được sản xuất ngay tại điểm phân phối. Khách hàng có nhu cầu, họ tìm đến, trả giá, thì quá trình sản xuất mới diễn ra; khách hàng không được định trước, không thể sờ nắn lựa chọn hay trao đổi sản phẩm khi đã mua, chỉ khi họ đã dùng thì mới cảm nhận được chất lượng dịch vụ.
Vì vậy, một trong những kinh nghiệm của các tập đoàn viễn thông trên thế giới về nâng cao khả năng cạnh tranh dịch vụ là tăng mức độ nhận biết của khách hàng về dịch vụ thông qua các yếu tố hữu hình của dịch vụ: con người, quy trình thủ tục và môi trường vật chất. Đồng thời tổ chức mạng lưới phân phối rộng khắp, linh hoạt, đồng bộ và thống nhất. - Tính không ổn định (Inconsistency) Mỗi doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông tham gia quá trình truyền đưa tin tức không tự mình tổ chức được toàn bộ quy trình dịch vụ mà phải có sự phối hợp của nhiều doanh nghiệp, trong quá trình xác lập thông tin có sự tham gia của nhiều đơn vị. Vì vậy, chất lượng dịch vụ thường khó xác định do còn phụ thuộc khá lớn vào sự phối hợp giữa các đơn vị cung cấp dịch 14 vụ, việc tiêu dùng dịch vụ tới mức nào, cao hay thấp lại phụ thuộc vào từng khách hàng, không người nào giống người nào.
Hơn nữa, do đặc tính dịch vụ không hiện hữu nên không thể đo lường và quy chuẩn hoá chất lượng cụ thể như sản phẩm hàng hoá được. - Tính không lưu giữ được (Inventory) Ngành Viễn thông là một ngành sản xuất xã hội có chức năng truyền đưa tin tức dưới dạng Viễn thông, Trong đó, Viễn thông là quá trình truyền tin tức (âm thanh, hình ảnh…) bằng sóng vô tuyến hoặc hữu tuyến điện thông qua các trang thiết bị hiện đại là thiết bị đầu cuối (máy điện thoại, máy vi tính…), hệ thống chuyển mạch (các tổng đài), hệ thống truyền dẫn (cáp quang, thiết bị vệ tinh,…) và hệ thống mạng ngoại vi (các loại cáp). Quá trình truyền đưa tin tức gồm ba Bướcchính là: Bướcnhận tin tức từ người gửi tin, Bướcchuyển tin tức trong không gian, Bướctrao đổi tin tức cho người nhận. Cả ba bước trên đều được thực hiện đồng bộ kế tiếp nhau trong một dây chuyền công nghệ truyền tin tức khép kín.
Người truyền Doanh nghiệp Doanh nghiệp Người nhận tin cung cấp dịch cung cấp dịch tin vụ viễn thông vụ viễn thông Hình 1.4 : quá trình truyền tin qua mạng viễn thông Vì vậy, trong mọi trường hợp dịch vụ viễn thông không thể cất giữ, lưu kho, bán hoặc trả lại được, do đó khi có những biến động về nhu cầu thường khó kiểm soát, khó phân bổ hợp lý. Ví dụ : nhu cầu thông tin liên lạc thường dao động rất lớn tăng nhanh vào các dịp lễ, tết, nhưng lại giảm mạnh ngay sau thời gian đó. Mặc dù vậy thì người cung cấp dịch vụ vẫn phải tốn các chi phí cơ bản như trả lương cho nhân viên, thanh toán tiền điện, khấu hao thiết bị. và vẫn phải duy trì số kênh liên lạc vào các thời điểm đó như nhau.
15 Ngoài ra, do tính chất riêng có của ngành nghề kinh doanh mà dịch vụ viễn thông còn có những đặc thù sau: - Chi phí tiền lương và tài sản cố định lớn Chi phí lớn nhất trong giá thành sản phẩm dịch vụ viễn thông là chi phí khấu hao thiết bị và chi phí tiền lương (đối với các sản phẩm thông thường thì chi phí lớn trong giá thành là nguyên vật liệu). Điều đó chỉ ra rằng muốn hạ giá thành dịch vụ viễn thông thì phải sử dụng hiệu qủa nguồn nhân lực, sử dụng hiệu quả tài sản cố định.