Chương 1: Cơ sở lý thuyết về quy hoạch hệ thống giao thông đường bộ và hệ thống giao thông đô thị Chương 2: Hiện trạng hệ thống giao thông huyện Giồng Riềng và giao thông đô thị thị trấn Giồng Riềng Chương 3: Giải pháp quy hoạch hệ thống giao thông huyện Giồng Riềng và thị trấn Giồng Riềng theo hướng hiện đại, bền vững 3 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUY HOẠCH HỆ THỐNG GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ VÀ HỆ THỐNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ 1.1 Khái niệm về giao thông vận tải và giao thông đô thị 1.1 Khái niệm và vai trò của giao thông vận tải Trong luận cương của Mác đã định nghĩa: “giao thông vận tải như một lĩnh vực thứ tư của sản xuất vật chất mà sản lượng của nó trong không gian và thời gian là tấn X cây số (T.KM) và hành khách X cây số ( HK. Theo một định nghĩa đầy đủ thì giao thông vận tải là một ngành sản xuất vật chất độc lập và đặc biệt của nền kinh tế quốc dân vi nó không sản xuất ra hàng hoá mà chỉ lưu thông hàng hoá. Đối tượng của vận tải chính lá con người và những sản phẩm vật chất do con người làm ra. Chất lượng sản phẩm vận tải là đảm bảo cho hàng hoá không bị hư hỏng, hao hụt, mất mát và đảm bảo phục vụ hành khách đi lại thuận tiện, an toàn, nhanh chóng và rẻ tiền.
Trong vận tải đơn vị đo lường là tấn/ km, hành khách/km. Sản phẩm giao thông vận tải không thể dự trữ và tích luỹ được. Vận tải chỉ có thể tích luỹ được sức sản xuất dự trữ đó là năng lực vận tải. Mặt khác sản phẩm này cùng được “sản xuất” ra và cùng được “ tiêu thụ”.2 Vai trò cùa giao thông vận tải Giao thông vận tải là một ngành sinh sau đẻ muộn so với các ngành sản xuất vật chất khác như công nghiệp, nông nghiệp nhưng nó có vai trò hết sức quan trọng là tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông, góp phần tích cực phát triển kinh tế xã hội.
Kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu vận tải ngày càng gia tăng cả về lượng lẫn về chất. Giao thông vận tải thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh và là cầu nối giúp các ngành kinh tế phát triển và ngược lại. Ngày nay vận tải được coi là một trong những ngành kinh tế dịch vụ chủ yếu có liên quan trực tiếp tới mọi hoạt động sản xuất và đời sống của toàn xã hội. Nhờ có dịch vụ này mới tạo ra được sự gặp gỡ của mọi hoạt động kinh tế- xã hội, từ đó tạo ra phản ứng lan truyền giúp các ngành kinh tế cùng phát triển.
Ngược lại chính sự phát triển của các ngành kinh tế lại tạo đà thúc đẩy ngành giao thông vận tải phát triển. Một vai trò quan trọng của ngành giao thông vận tải là phục vụ nhu cầu lưu thông, đi lại của toàn xã hội, là cầu nối giữa các vùng miền và là phương tiện giúp Việt Nam giao lưu và hội nhập kinh tế quốc tế. Ngày nay, với hệ thống các loại hình giao 4 thông: đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không thi việc đi lại giao lưu kinh tế văn hoá giữa các địa phương, các vùng trong nước và vái các quốc gia trên thế giới trở nên hết sức thuận tiện. Đây cũng chính là một trong những tiêu chí để các nhà đầu tư xem xét khi quyết định đầu tư vào một thị trường nào đó.
Ngành giao thông vận tải thu hút một khối lượng lớn lao động đủ mọi trình độ góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Đồng thời còn tạo ra hàng ngàn chỗ làm việc vào các lĩnh vực liên quan như công nghiệp giao thông vận tải (sản xuất xe ô tô chở khách và công nghiệp đóng tàu.), xây dựng cơ sở hạ tầng ( đường sá, cầu cống, bến bãi, nhà ga, bến cảng.3 Khái niệm chung về giao thông đô thị 1.1 Khái niệm giao thông đô thị Giao thông đô thị là một trong nhiều lĩnh vực quan trọng của công tác xây dựng đô thị. Chức năng của nó là liên hệ các bộ phận chủ yếu của đô thị với nhau, cụ thể là các khu nhà ở, khu công nghiệp, các điểm phục vụ văn hoá, sinh hoạt, thương nghiệp, các khu vực nghỉ ngơi.Giao thông đô thị có nhiệm vụ chuyên chở hành khách và hàng hoá trong đô thị với yêu cầu nhanh chóng, thuận tiện và an toàn. Đường phố là một trong những bộ phận quan trọng nhất của đô thị.
Khi thiết kế xây dựng đường phố, phải giải quyết toàn diện chức năng nhiều mặt của nó, nghĩa là phải giải quyết tốt các yêu cầu về giao thông, kỹ thuật và mỹ quan. a/ Chức năng giao thông Đây là chức năng cơ bản của mạng lưới đường phố, đảm bảo liên hệ giao thông thuận lợi, nhanh chóng với quãng đường ngắn nhất giữa các khu vực của thành phố, giữa nội thành với ngoại thành, giữa các vùng ngoại thành với nhau và với các địa phương khác. Các tuyến giao thông công cộng phải hợp lý tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân thành phố tới công sở, nhà máy, trường học và các nơi dịch vụ công cộng khác. Các tuyến đường phải có khả năng phân luồng khi cần sửa chữa hay có ách tắc giao thông, tránh làm các đường độc đạo.
b/ Chức năng kỹ thuật Các thành phố hiện đại có mạng lưới kỹ thuật phức tạp bố trí trên hoặc dưới đường phố nên đường phố phải có mặt cắt ngang đủ rộng để bố trí mạng lưới kỹ thuật( điện, thông tin, cấp thoát nước, giao thông ngầm). Tốt nhất các mạng lưới này nên được bố trí ở vị trí hè phố, khi xây dựng, sử chữa không phải đào phá đường. c/ Chức năng mỹ quan Vẻ đẹp của một thành phố do các công trình giao thông, các công trình kiến 5 trúc ven đường, hệ thống cây xanh, thảm cỏ, hồ nước tạo nên. Các công trình giao thông đặc biệt là các công trình nổi phải hài hòa với kiến trúc xung quanh để tạo nên vẻ đẹp cho thành phố.
Toàn bộ đường phố và đường ô tô các loại trong đô thị hợp thành mạng lưới đường phố. Mỗi đường phố là một bộ phận của mạng lưới đường phố. Mỗi loại đường phố có những chức năng riêng của nó.2 Phân loại giao thông đô thị a/ Giao thông đối ngoại Là giao thông giữa các thành phố với các vùng phụ cận và các địa phương, là sự liên hệ giao thông giữa đô thị với bên ngoài, giữa các đô thị vói nhau, hoặc giữa các đô thị với các vùng khác trong nước. Tùy vào điều kiện địa hình, địa lý cũng như quy mô của thành phố mà có thể dùng các loại hình vận tải khác nhau để phục vụ giao thông đối ngoại như: - Đường sắt: được dùng phổ biến vì có sức chở lớn, vận chuyển được đường dài, an toàn, tốc độ cao, ít bị ảnh hưởng bởi thời tiết, khí hậu; tuy nhiên đầu tư ban đầu lớn, chiếm nhiều diện tích, dễ gây trở ngại hoạt động của đô thị.
- Đường thủy (đường song, đường biển): có thể vận chuyến được khối lượng lớn hàng hóa cồng kềnh, đi được đường xa, gía thành hạ, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng không cao; tuy nhiên phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, điều kiện thời tiết và tốc độ chậm. - Đường hàng không: ngày nay trở thành phương tiện giao thông quan trọng. Vận tải hàng không có tốc độ cao nhất, phạm vi hoạt động rộng, thích hợp vận tải đường dài hoặc có thể vận tải đến những nơi mà thực hiện bằng các loại hình vận tải khác gặp khó khăn. - Đường ô tô: được sử dụng phổ biến nhất vi rất cơ động, có thể thực hiện từ cửa đến cửa, không phải qua trung chuyển, thiết bị vận tải đơn giản, dễ thích ứng với mọi trường hợp, cự ly di chuyến ngắn và có xu hướng gia tăng nhờ vào sự phát triển của phương tiện vận tải và mạng lưới đường bộ cả về chất lượng và số lượng.
b/ Giao thông đối nội Giao thông đối nội đảm bảo việc lưu thông giữa các khu vực trong thành phố và thường gọi la giao thông đô thị. Giao thông đối nội bao gồm việc vận tải hàng hóa, hành khách với các nhiệm vụ cụ thể như sau: - Vận chuyển nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, vận tải hàng hóa phục vụ đời sống nhân dân trong vùng. 6 - Vận tải hành khách là phục vụ nhu cầu của người lao động từ nhà tới nơi làm việc, học sinh sinh viên từ nhà đến trường, phục vụ nhu càu của khách tham quan, khách vãng lai quá cảnh và các nhu cầu đi lại khác. Tuy nhiên với giao thông đối nội thì quan trọng nhất vẫn là vận tải hành khách vì nhu cầu nay rất lớn và đây cũng là nguyên nhân chính gây ùn tắc giao thông trên các tuyến đường.
Các phương tiện giao thông đối nội có thể kể đến như sau: Đường bộ: xe bus, xe con, ô tô khách, xe tải, mô tô, xe đạp, bộ hành. Đường thủy: tàu thủy, thuyền. Mạng lưới giao thông đối ngoại được đấu nối với mạng lưới giao thông đối nội thông qua các trạm trung chuyển trung gian là bến xe.đảm bảo sự đi lại ra vào đô thị được thuận tiện. Nói chung giao thông đô thị rất phức tạp do các nguyên nhân sau: + Có nhiều điểm tập trung người và hàng hóa trong đô thị.
+ Quy mô vận tải của một số tuyến không ổn định về thời gian và số lượng. + Thành phần dòng xe phức tạp. + Do sự phát triển không ngừng của nền kinh tế lưu lượng xe tăng nhanh mà cơ sở hạ tầng giao thông không đáp ứng kịp. + Có nhiều giao cắt gây khó khăn cho tổ chức va quản lý giao thông.2 Cơ sở lý thuyết giao về quy hoạch mạng lƣới giao thông giao đƣờng bộ 1.1 Nội dung và nhiệm vụ thiết kế - Xác định sơ đồ của lưới đường, tức là định vị trí và mối quan hệ giữa các con đường trong khu vực thiết kế.
- Định cấp hạng kỹ thuật của từng con đường trong mạng lưới đường. - Định trình tự xây dựng và cải tạo nâng cấp các con đường.2 Yêu cầu thiết kế - Phải đáp ứng tốt nhất nhu cầu vận tải đối ngoại, nội bộ và quá cảnh. - Phải là một bộ phận của lưới đường thống nhất toàn quốc phối hợp chặt chẽ, bổ sung cho lưới đường toàn quốc. - Phải đảm bảo phối hợp chặt chẽ với các loại vận tải khác, phát huy tính ưu việt và khả năng của các loại vận tải.
- Phải phối hợp chặt chẽ với quy hoạch sản xuất, quy hoạch xây dựng cơ bản, v.