phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các bảng, biểu, nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế TNDN. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý thu thuế TNDN trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế TNDN trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Vấn đề quản lý thu thuế nói chung và quản lý thuế TNDN nói riêng đƣợc nhiều ngƣời quan tâm nghiên cứu.
Dƣới đây là một số công trình tiêu biểu mà học viên có điều kiện đƣợc tham khảo: - TS. Nguyễn Thị Mỹ Dung (2012), “Quản lý thuế ở Việt Nam, hoàn thiện và đổi mới”, Tạp chí phát triển và hội nhập, 7 (17), tr. Trong bài viết này, tác giả đã khẳng định vai trò của công tác quản lý thuế, trình bày cơ bản các quy trình nghiệp vụ quản lý thuế ở Việt Nam. Qua đó, tác giả tập trung phân tích những bất cập trong công tác quản lý thuế ở Việt Nam hiện Luan van 4 nay và trình bày một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành thuế.
Đây là bài báo đánh giá thực trạng của công tác quản lý thuế nói chung, ở phạm vi nghiên cứu rộng, giúp học viên tham khảo, định hƣớng nghiên cứu. - ThS Tạ Văn Nam (2013), “Bốn nhƣợc điểm lớn của ngành thuế Việt Nam”, Tạp chí kinh tế và dự báo, (12). Trong bài viết này, tác giả đã đánh giá và đƣa ra bốn nhƣợc điểm lớn của ngành thuế Việt Nam, đó là: thứ nhất, hệ thống chính sách thuế còn nhiều bất cập, chƣa đồng bộ, phù hợp và sát với thực tế gây không ít khó khăn trong quá trình thực hiện; thứ hai, hệ thống chính sách thuế chƣa bao quát và điều tiết hết các nguồn thu trong nền kinh tế và chƣa thật sự phù hợp với thông lệ quốc tế; thứ ba, sự hiểu biết và ý thức chấp hành chính sách thuế của ngƣời dân chƣa đồng đều và sâu sắc và thứ tƣ, chƣa chú trọng ứng dụng những tiến bộ về khoa học, công nghệ trong công tác thuế. Học viên hoàn toàn thống nhất với những đánh giá của tác giả và đánh giá cao những đề xuất giải pháp mà tác giả đƣa ra, trong đó, chú trọng nâng cao chất lƣợng công tác quản lý thu thuế.
Nguyễn Bá Phú (2013), “Luật thuế thu nhập doanh nghiệp: nhìn từ thực tiễn triển khai tại địa phƣơng”, Tạp chí tài chính, (4), tr. Tác giả đã đánh giá công tác quản lý và kết quả thực hiện thu thuế theo Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2008 – 2013 và phân tích cho thấy những tác động hiệu quả của điều chỉnh giảm thuế suất thuế TNDN đến tăng nguồn thu thuế. Từ đó, tác giả đã thống nhất cao với những điểm mới trong dự thảo Luật thuế TNDN sửa đổi (2013). Bài viết giúp học viên định hƣớng đánh giá công tác quản lý và kết quả thực hiện thu thuế theo Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 tại địa phƣơng nghiên cứu.
- Ngô Thị Cẩm Lệ (2012), Pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp và thực tiễn trên địa bàn Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội. Trên cơ sở lý luận và xuất phát từ những hạn chế còn tồn tại của thực Luan van 5 tiễn áp dụng pháp luật về thuế TNDN hiện hành và công tác quản lý thu thuế TNDN trên địa bàn Hà Nội, tác giả đã đề xuất phƣơng hƣớng, giải pháp góp phần hoàn thiện chính sách thuế TNDN tại Việt Nam nhằm tạo điều kiện tối đa cho ngƣời nộp thuế mà vẫn đảm bảo số thu NSNN và vai trò của Nhà nƣớc về quản lý thuế đối với doanh nghiệp. Đề tài đã cho thấy vai trò, thực trạng của chính sách thuế TNDN và công tác quản lý thủ tục hành chính về thuế TNDN, làm cơ sở cho việc kiến nghị, đề xuất. - Ngô Nga (2013), “Giảm thuế thu nhập doanh nghiệp: Việt Nam đang đi sau thế giới”, trang web: Diễn đàn kinh tế Việt Nam, truy cập ngày 26/4/2014, tại địa chỉ: http://vef.vn/2013-11-22-giam-thue-thu-nhap-dn-viet- nam-dang-di-sau-the-gioi-.
Tác giả đã đƣa ra nhận định nguồn thu thuế là một công cụ, trực tiếp hay gián tiếp, trong chính sách điều hành của Chính phủ nhằm tăng thu ngân sách, tuy nhiên cần cân đối giữa việc tăng thu thuế với giảm gánh nặng thuế nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vƣợt qua cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Theo tác giả, mức thuế suất TNDN là 25% đã đƣợc áp dụng trong suốt 5 năm từ năm 2009. Tuy nhiên, đến năm 2013, mức thuế này đã cao hơn so với mức trung bình toàn Châu Á (22,49%) cũng nhƣ trên thế giới (24,08%). Hơn nữa, với tình hình kinh tế khó khăn hiện nay thì đây cũng là mức thuế suất khá cao cho doanh nghiệp, do đó, dễ gây ra tình trạng nợ thuế ngày càng tăng.
Bài báo giúp học viên nhận thấy vai trò của việc điều chỉnh giảm thuế suất TNDN không chỉ tạo thuận lợi cho ngƣời nộp thuế mà còn cho cả cơ quan thuế trong việc đảm bảo quản lý nguồn thu thuế TNDN. - Trần Văn Ninh (2012), Tăng cường kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp tại chi cục thuế quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng. Đề tài đã nghiên cứu thực trạng quy trình kiểm soát thuế TNDN trên địa bàn quận Cẩm Lệ do chi cục thuế quận Cẩm Lệ quản lý. Tác giả đã đƣa ra nhiều giải pháp nhằm hoàn thiện công tác Luan van 6 kiểm soát thuế TNDN, đặc biệt đã đƣa ra mô hình phân tích rủi ro khi lập kế hoạch kiểm tra thuế TNDN; tổng hợp và nhận dạng hành vi trốn thuế TNDN.
Nhƣ vậy, đề tài đi sâu phân tích có hệ thống và khách quan sự tác động của hạch toán kế toán đến kết quả quản lý thu thuế TNDN của chi cục thuế quận Cẩm Lệ, chứ không tập trung vào công tác quản lý thu thuế TNDN. - Lý Vân Phi (2011), Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục thuế Thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng. Trong đề tài này, tác giả đã phân tích rất rõ sự tác động của công tác quản lý thuế TNDN đến tổng số thu NSNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Qua đó, tác giả đã đánh giá đúng thực trạng và xác định đƣợc nguyên nhân của những hạn chế về công tác quản lý thuế hiện nay để đề ra những giải pháp hiệu quả.
Tuy nhiên, đề tài chỉ đánh giá thực trạng đến năm 2011 và trên địa bàn chung toàn thành phố Đà Nẵng. - Đặng Thị Hân Ly (2013), Hoàn thiện công tác thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại tỉnh Trà Vinh, Luận văn thạc sĩ Kinh tế phát triển, Đại học Đà Nẵng. Đề tài đã phân tích, đánh giá đúng thực trạng công tác thu thuế TNDN ở tỉnh Trà Vinh, chỉ rõ những mặt tích cực đã đạt đƣợc, những hạn chế và nguyên nhân. Qua đó, đề xuất đƣợc phƣơng hƣớng và một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác thu thuế.
Tuy nhiên, nội dung đề tài chƣa đề cập đến một khâu quan trọng trong công tác quản lý thu thuế, đó là quản lý nợ và cƣỡng chế nợ thuế; đồng thời, đề tài nghiên cứu tại địa bàn tỉnh Trà Vinh. Tác giả thấy đƣợc mối liên quan của nội dung nghiên cứu các công trình của các nhà khoa học nêu trên với công trình mà tác giả đang nghiên cứu. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên có mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu, cách tiếp cận khác nhau và chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và trực tiếp về quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Luan van 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1.
KHÁI QUÁT VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về thuế thu nhập doanh nghiệp a. Khái niệm về thuế thu nhập doanh nghiệp Trên góc độ kinh tế học, thuế đƣợc xem xét nhƣ là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nƣớc sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tƣ sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng KT-XH của Nhà nƣớc. Thuế là một khoản đóng góp có tính bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nƣớc, đƣợc quy định bằng các văn bản pháp luật và không có tính hoàn trả trực tiếp.
Thuế không phải là một hiện tƣợng tự nhiên mà là một hiện tƣợng xã hội do chính con ngƣời định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nƣớc và pháp luật. Căn cứ vào tính chất của nguồn tài chính động viên vào ngân sách Nhà nƣớc, thuế đƣợc phân làm 2 loại: thuế trực thu và thuế gián thu. Thuế gián thu là một bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ do chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh nộp cho Nhà nƣớc nhƣng ngƣời tiêu dùng lại là ngƣời phải chịu thuế. Ở nƣớc ta thuộc loại thuế này bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt… Thuế trực thu là loại thuế mà Nhà nƣớc thu trực tiếp vào phần thu nhập của các pháp nhân hoặc thể nhân.
Tính chất trực thu thể hiện ở chỗ ngƣời nộp thuế theo quy định của pháp luật đồng thời là ngƣời chịu thuế. Thuế trực thu trực tiếp động viên, điều tiết thu nhập của ngƣời chịu thuế. Luan van 8 Thuế TNDN là loại thuế trực thu, đánh vào phần thu nhập sau khi trừ đi các khoản chi phí liên quan đến thu nhập của cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Tuy nhiên, trên phƣơng diện luật pháp, loại thuế này cũng có thể đƣợc sử dụng để mở rộng diện điều chỉnh đối với thu nhập của những cá nhân hoặc nhóm cá nhân kinh doanh, hợp tác xã, các hình thức hợp danh, liên kết.
tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý của Nhà nƣớc. Thuế TNDN xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển của thuế và có những tên gọi khác nhau, tuỳ theo quan niệm hoặc quy định pháp luật của mỗi nƣớc, nhƣ thuế công ty (corporation tax); thuế thu nhập công ty (corporation income tax); thuế lợi tức (profit tax) hoặc thuế lợi tức công ty (corporation profit tax). Trong đó, có nhiều ý kiến cho rằng “thu nhập doanh nghiệp” đƣợc sử dụng nhiều hơn, thực dụng hơn và khi sử dụng nó sẽ dễ đánh thuế hơn so với sử dụng phạm trù “lợi tức”.