CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Có không ít công trình nghiên cứu về việc hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực KTNQD đã được thực hiện trong thời gian qua như sau: 1. Bài viết của tác giả Diệu Anh, “Cải cách pháp luật về thuế nhưng không để thành thiên đường thuế” được đăng trên Báo Pháp luật (2016) [ 20 ]. Theo đánh giá thực trạng pháp luật về thuế của Việt Nam, ông Đinh Xuân Thảo - Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp nhận thấy, chính sách thuế chưa bao quát hết các đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế và các nguồn thu đang và sẽ phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế; cơ cấu nguồn thu thuế trong hệ thống pháp luật thuế hiện nay mất cân đối theo loại thuế và sắc thuế.
Tính công bằng, hiệu quả của pháp luật về thuế hiện hành còn chưa cao. Vì vậy, trong giai đoạn 2011 - 2020, theo Giáo sư Đặng Văn Thanh, các chính sách thuế cần cải cách và luật hóa, hướng tới đảm bảo nguồn thu vững chắc cho NSNN, nhưng giảm dần tỷ lệ động viên từ nền kinh tế vào Nhà nước; giảm dần tỷ trọng thuế gián thu, tăng dần tỷ trọng thuế trực thu, đảm bảo đúng bản chất của thuế là phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân, khuyến khích sản xuất, kinh doanh. Tác giả Đào Duy Dương (2003), trong nghiên cứu “Quản lý thuế khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở Hà Tây thực trạng và giải pháp” [21], tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu là phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả cũng đã kết hợp nhiều phương pháp như: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh để rút ra những kết luận cần thiết.
Tác giả cũng đã phân tích những quan điểm về việc thi hành chính sách động viên đóng góp thuế trên cơ sở bình đẳng, công bằng, đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế; phân tích thực trạng công tác quản lý thuế khu vực KTNQD những năm gần đây, nhất là từ khi thực hiện Luật Doanh nghiệp. Tác giả Nguyễn Xuân Hải (2011), trong nghiên cứu“Các giải pháp quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam” [22], đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về thuế và vấn đề quản lý thuế đối với khu vực KTNQD; phân tích thực trạng công tác quản lý thu thuế ngoài quốc doanh trên địa bàn trong những năm gần đây, nhất là từ khi thực hiện Luật Quản lý thuế; đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường và hoàn thiện công tác quản lý thu thuế ngoài quốc doanh nhằm hạn chế sự thất thu về thuế trên địa bàn huyện trong thời gian tới. Với những nội dung đã trình bày trong luận văn, tôi nhận thấy tác giả chỉ phân tích số liệu thống kê, chưa đánh giá cụ thể thực trạng quản lý thuế tại địa bàn bằng những phương pháp nghiên cứu thực tế như phỏng vấn cán bộ quản lý thuế và phỏng vấn chuyên gia. Do đó, chưa đánh giá một cách toàn diện thực trạng quản lý thuế khu vực KTNQD, để từ đó đề xuất những giải pháp quản lý thuế sao cho có hiệu quả.
Bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Thị Thương Huyền, “Luật quản lý thuế và những vấn đề cần bàn thêm” được trích từ nguồn Nghiên cứu lập pháp số 135 (11/2008) [28]. Nội dung bài viết đã nêu Luật Quản lý thuế Việt Nam phản ánh, ghi nhận khá đầy đủ, toàn diện các nội dung của quản lý thuế và đặc biệt có nhiều nội dung mới mà trước đây các luật về chính sách thuế chưa quy định như: Nguyên tắc quản lý thuế; trách nhiệm của Hội đồng tư vấn thuế xã, phường, thị trấn; trách nhiệm của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án; trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp; trách nhiệm của cơ quan thông tin, báo chí trong việc quản lý thuế; xây dựng lực lượng quản lý thuế; hiện đại hóa công tác quản lý thuế; tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế; thông tin về NNT; gia hạn nộp thuế; xóa nợ thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế. hoặc, các vấn đề về quản lý thuế có quy định tại các luật về chính sách thuế nhưng chưa chi tiết cụ thể hoặc được quy định ở các nghị định, thông tư, như: Thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền phạt; xử lý số tiền thuế nộp thừa; nộp thuế trong thời gian giải quyết khiếu nại, khiếu kiện; trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế; các biện pháp áp dụng trong thanh tra thuế đối với trường hợp có dấu hiệu trốn thuế, 8 gian lận thuế; cưỡng chế thuế. Đó là thành công khó có thể phủ nhận của Luật Quản lý thuế hiện hành.
Song, đâu đó vẫn còn những “hạt sạn” trong Luật Quản lý thuế. Bài viết của tác giả Mai Hằng, "6 giải pháp cải cách hành chính thuế đối với hộ kinh doanh" được đăng trên Tạp chí Tổ chức Nhà nước (2015) [ 27 ]. Nội dung bài viết đã nêu trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước, khu vực KTNQD, đặc biệt là hộ kinh doanh (gồm cá nhân kinh doanh, nhóm cá nhân kinh doanh và hộ gia đình) đã thể hiện vai trò đối với nền kinh tế về số lượng tham gia, hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nhiều lĩnh vực ngành nghề và tạo ra nhiều việc làm cho người lao động. Đặc điểm chung của các hộ kinh doanh là trình độ kinh doanh, tuân thủ pháp luật nói chung và pháp luật về thuế chưa cao, do hầu hết quy mô kinh doanh nhỏ, kinh doanh theo kinh nghiệm, không thực hiện chế độ sổ sách kế toán, không thực hiện khai và nộp thuế theo thu nhập (doanh thu trừ chi phí) mà chủ yếu nộp thuế theo phương pháp khoán (nộp theo tỷ lệ ấn định trên doanh thu),.
Khu vực hộ kinh doanh đóng góp cho ngân sách chiếm tỷ trọng không cao trong tổng thu NSNN (khoảng 2%). Việc quản lý thuế tốn nhiều chi phí do số lượng hộ kinh doanh nhiều, gồm hộ kinh doanh chưa đến mức phải nộp thuế giá trị gia tăng chỉ phải thu thuế môn bài, hộ kinh doanh đến mức phải nộp thuế, hộ kinh doanh ngừng hoạt động không nộp thuế, hộ không có đăng ký kinh doanh (ĐKKD), kinh doanh theo mùa vụ, không thường xuyên, không có địa điểm kinh doanh cố định… Số cán bộ trực tiếp quản lý thuế chiếm khoảng 21%, ngoài ra còn có sự tham gia của đại diện các ban, ngành, chính quyền địa phương (Hội đồng tư vấn thuế xã, phường) và người dân trong việc xác định doanh thu khoán và mức thuế khoán đảm bảo sát với thực tế phát sinh. Tác giả Vũ Thị Toản (2006), trong nghiên cứu “Công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Nội” [ 29 ] đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về thuế; phân tích thực trạng công tác quản lý thu thuế ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Nội trong những năm qua; đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường và hoàn thiện công tác quản lý thu thuế ngoài quốc doanh, hạn chế sự thất thu về thuế trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới. Với 9 những nội dung đã trình bày trong luận văn, tôi nhận thấy tác giả chỉ tập trung phân tích và đưa ra những giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu đối với hai sắc thuế: Thuế giá trị gia tăng và Thuế thu nhập doanh nghiệp; trong khi đó quản lý thuế khu vực KTNQD bao gồm nhiều sắc thuế như: Thuế giá trị gia tăng, Thuế thu nhập doanh nghiệp, Thuế tiêu thụ đặc biệt, Thuế môn bài, thuế khác.
Do đó, chưa đánh giá được sự ảnh hưởng của từng sắc thuế đến chỉ tiêu thu thuế khu vực KTNQD như thế nào, để từ đó có những giải pháp quản lý phù hợp hơn. Tóm lại, các nghiên cứu nói trên đã xác định thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN, trong đó, thuế khu vực KTNQD chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong cơ cấu tổng nguồn thu NSNN. Qua phân tích, đánh giá công tác quản lý thuế nói chung, khu vực KTNQD nói riêng đã cho thấy được những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý thuế. Từ đó, đề xuất những giải pháp quản lý thuế cho phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu nói trên chưa có công trình nào đánh giá thực trạng quản lý thuế dựa trên cơ sở kết quả khảo sát để đánh giá, mà chỉ sử dụng số liệu từ các báo cáo của ngành để phân tích. Chính vì vậy, qua nghiên cứu này, tác giả sẽ kế thừa và thực hiện đánh giá thực trạng quản lý thuế dựa trên các số liệu thu thập từ ngành thuế và các ngành có liên quan, đồng thời sẽ tiến hành khảo sát từ chuyên gia, cán bộ quản lý thuế và đối tượng nộp thuế để đánh giá sâu hơn. Từ đó, làm cơ sở để đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu thuế khu vực KTNQD, góp phần cùng ngành thuế hoàn thành tốt nhiệm vụ thu ngân sách và phát huy tốt vai trò của thuế đối với NSNN trong thời gian tới. Khái niệm và đặc điểm của thuế 1.
Khái niệm về thuế Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện theo luật đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối khoản và không hoàn trả trực tiếp cho NNT. Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật [14]. Đặc điểm của thuế 1. Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền Theo phương thức đánh thuế trong nền kinh tế thị trường, về nguyên tắc, thuế là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, khác với hình thức nộp thuế bằng hiện vật đã tồn tại từ thời xa xưa hoặc khác với chế độ giao nộp sản phẩm trong nền kinh tế phi thị trường [14].
Thuế luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước Đặc điểm này thể hiện tính pháp lý tối cao của thuế.