Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý thu, chi BHXH của BHXH cấp huyện. Chương 2: Thực trạng quản lý thu, chi BHXH tại BHXH huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. 3 Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý thu, chi BHXH tại Bảo hiểm xã hội huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU, CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI CẤP HUYỆN 4 1.
Khái quát về BHXH 1. Khái niệm, bản chất của BHXH BHXH đã xuất hiện từ khoảng thế kỷ thứ XIII ở Nam Âu khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá đã bắt đầu phát triển. Từ đó, BHXH ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Có thể nói, BXXH cũng đã ra đời trong một khoảng thời gian dài, tuy nhiên vẫn chưa có khái niệm thống nhất.
Theo Dương Xuân Triệu (2009):“BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua các biện pháp công cộng nhằm chống lại các khó khăn về kinh tế, xã hội do bị mất hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tại nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già, chết đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con” [15]. Theo Luật BHXH Việt Nam (2014): “BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu thập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”. BHXH bắt buộc là loại hình BHXH mà người lao động và người sử dụng lao động có trách nhiệm phải tham gia. Mức đóng được xác định bằng tiền lương, tiền công thực tế nhân với tỷ lệ phần trăm theo quy định từng thời kỳ.
Khi tham gia BHXH bắt buộc, người lao đông được hưởng đầy đủ năm chế độ BHXH hiện hành (Hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, ốm đau, thai sản…) [12]. Theo Phạm Thị Định (2015):“BHXH là sự đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ khi bị giảm, bị mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, trên cơ sở san sẻ trách nhiệm đóng góp vào quỹ BHXH” [6]. Theo Nguyễn Văn Định (2009): “Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm dẫn đến mất thu nhập trên cơ sở hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm 5 đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo ASXH” [5]. Theo quan điểm của tác giả, khái niệm về BHXH theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội (2014) là đầy đủ nhất và đây là quan điểm được tác giả sử dụng trong luận văn này.
Tuy các khái niệm về BHXH có khác nhau nhưng nhìn chung đều thể hiện bản chất của BHXH, đó là: BHXH là một chính sách xã hội quan trọng của Nhà nước, nhằm đảm bảo an toàn cho đời sống của mọi người trong xã hội. Nhà nước sử dụng BHXH như một công cụ quan trọng để can thiệp và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động trong các trường hợp họ gặp phải rủi ro, mất khả năng lao động, ốm đau, hưu trí…Do đó, BHXH ra đời, tồn tại và phát triển như một nhu cầu khách quan. BHXH được hoạt động theo nguyên tắc cộng đồng, lấy số đông bù đắp cho số ít. Cụ thể là dùng số tiền đóng góp của số đông người để bù đắp và san sẻ cho số ít người với số tiền lớn hơn so với số đóng góp của từng người khi họ gặp phải những biến cố, rủi ro.
BHXH là hoạt động dịch vụ công, mang tính xã hội cao. Mục tiêu của BHXH là vì lợi ích chung của tất cả mọi người trong xã hội. Chính vì vậy, có thể khẳng định BHXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Đối tượng của BHXH là thu nhập của người lao động, tuy nhiên diện bảo vệ của BHXH là cả người lao động và gia đình của họ.
Như vậy, BHXH đã và đang thực hiện nhiệm vụ ổn định đời sống của người tham gia, gia đình họ và toàn xã hội. Các loại BHXH và chế độ BHXH Theo quy định tại điều 3 của Luật BHXH (2014) có hai loại BHXH: [12] - BHXH bắt buộc là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia. - BHXH tự nguyện là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập 6 của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất. Theo quy định tại điều 4 của Luật BHXH (2014) quy định về các chế độ BHXH thì: [12] - BHXH bắt buộc có các chế độ sau đây: + Ốm đau; + Thai sản; + Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; + Hưu trí; + Tử tuất.
- BHXH tự nguyện có các chế độ: + Hưu trí; + Tử tuất. Nguyên tắc BHXH Theo điều 5 – Luật BHXH (2014) nguyên tắc BHXH gồm những nội dung sau: [12] - Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH. - Mức đóng BHXH bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương tháng của người lao động. Mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập tháng do người lao động lựa chọn.
- Người lao động vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian đóng BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng BHXH. - Quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần, các nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định. - Việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH. Đặc điểm của BHXH BHXH có một số đặc điểm cơ bản sau: [13].
- BHXH mang tính chất xã hội, phi lợi nhuận, không vì mục đích kinh doanh thu lợi nhuận mà vì mục đích phục vụ cộng đồng xã hội trên phạm vi toàn quốc, nhằm thực hiện chính sách ASXH của Đảng và Nhà nước, đảm bảo cho người lao động có khoản trợ cấp thiết yếu khi gặp rủi ro, khó khăn trong cuộc sống. - BHXH bảo hiểm cho người lao động trong và sau quá trình lao động. Nói cách khác, khi đã tham gia vào hệ thống BHXH, người lao động được bảo hiểm đến lúc chết. - Người lao động muốn được hưởng trợ cấp BHXH thì phải có nghĩa vụ đóng BHXH, chủ sử dụng lao động có nghĩa vụ đóng BHXH cho người lao động do mình ký kết hợp đồng lao động.
Sự đóng góp của các bên tham gia BHXH là nguồn hình thành nên quỹ BHXH. Quỹ BHXH được dùng để chi trả các chế độ BHXH cho người lao động. - BHXH chỉ bảo đảm cho các rủi ro bản thân, không bảo đảm cho các rủi ro tài sản và trách nhiệm dân sự như các loại bảo hiểm thương mại khác. - Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH.
- Sự tương hỗ trong BHXH được thực hiện trong một cộng đồng rộng rãi, toàn xã hội, nhằm chia sẻ rủi ro. - BHXH là một hoạt động thoả thuận và không thoả thuận. Điều này thể hiện ở chỗ BHXH có cả BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Quản lý thu, chi BHXH của BHXH cấp huyện 1.
Quản lý thu BHXH của BHXH cấp huyện 1.Khái niệm quản lý thu BHXH Thu BHXH là việc nhà nước dùng quyền lực của mình bắt buộc các đối tượng phải đóng BHXH theo mức phí quy định hoặc cho phép một số đối tượng tự nguyện tham gia, lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp 8 với thu nhập của mình. Trên cơ sở đó hình thành một quỹ tiền tệ tập trung nhằm mục đích đảm bảo cho các hoạt động BHXH. Thu BHXH thực chất là quá trình phân phối lại một phần thu nhập của các đối tượng tham gia BHXH, phân phối và phân phối lại một phần của cải của xã hội dưới dạng giá trị nhằm giải quyết hài hoà các mối quan hệ về mặt lợi ích kinh tế, đảm bảo công bằng xã hội. Như vậy, có thể hiểu thu BHXH bắt buộc là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình bắt buộc các đối tượng phải đóng BHXH theo mức phí nhất định theo quy định của Luật BHXH.
Quản lý là một hiện tượng xã hội, xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người, được các nhà tư tưởng, các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau tìm hiểu, nghiên cứu nhưng chưa có khái niệm thống nhất. Harol Koontz cho rằng: "Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác" [9] Còn theo quan điểm của Nguyễn Cửu Việt (2005) thì “Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá trình vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đã định trước” [19] hay Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2014) cho rằng “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tô chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tô chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra; Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đich của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”[4]. Những quan niệm về quản lý của các tác giả trên tuy có khác nhau nhưng có thể khái quát lại như sau: “Quản lý là một quá trình trong đó chủ thể quản lý tổ chức, điều hành, tác động có định hướng, có chủ đích lên khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra”. Trong hoạt động quản lý có các vấn đề về: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, công cụ và phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý là những yếu tố trung tâm đòi hỏi phải được xác định đúng đắn.