Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 1. Cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng 1. Dự án đầu tư xây dựng 1. Khái niệm chung về dự án Theo Đại bách khoa toàn thư, từ “ Project - Dự án” được hiểu là “Điều có ý định làm” hay “Đặt kế hoạch cho một ý đồ, quá trình hành động”.
Như vậy, dự án có khái niệm vừa là ý tưởng, ý đồ, nhu cầu vừa có ý năng động, chuyển động, hành động. Theo Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29/11/2005, dự án “là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên nguồn vốn xác định”. Khái niệm chung về đầu tư Theo từ điển tiếng Việt: Đầu tư là bỏ công sức, tiền bạc vào việc gì đó để có được lợi ích. [20] Theo Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005, đầu tư được hiểu “là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.
Dự án đầu tư Theo Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014, Dự án đầu tư “là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”. [16] Căn cứ theo Luật Đầu tư, dự án đầu tư có thể được hiểu như sau: Xét về mặt hình thức, dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động, chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. 6 Xét về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định. Xét về mặt quản lý, thông qua dự án đầu tư nhà đầu tư có thể quản lý về việc sử dụng vốn, vật tư, trang thiết bị,… nhằm đem lại kết quả tốt về tài chính và kinh tế trong thời gian dài.
Dự án đầu tư là căn cứ quan trọng để cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép đầu tư. Đồng thời, dự án đầu tư là căn cứ để nhà đầu tư triển khai hoạt động đầu tư và đánh giá hiệu quả của dự án. * Dự án đầu tư gồm những thành phần chính sau: + Các mục tiêu cần đạt được khi thực hiện dự án: Khi thực hiện dự án, sẽ mang lại những lợi ích gì cho đất nước nói chung và cho chủ đầu tư nói riêng. + Các kết quả: Đó là những kết quả có định lượng được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án.
Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện các mục tiêu của dự án. + Các hoạt động: Là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong dự án để tạo ra các kết quả nhất định, cùng với một lịch biểu và trách nhiệm của các bộ phận sẽ được tạo thành kế hoạch làm việc của dự án. + Các nguồn lực: Hoạt động của dự án không thể thực hiện được nếu thiếu các nguồn lực về vật chất, tài chính và con người. Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cho các dự án.
+ Thời gian: Độ dài thực hiện dự án đầu tư cần được cố định. Dự án đầu tư được xây dựng phát triển bởi một quá trình gồm nhiều giai đoạn. Các giai đoạn này vừa có mối quan hệ gắn bó, vừa độc lập tương đối với nhau tạo thành chu trình của dự án. Trình tự thực hiện đầu tư xây dựng theo quy định tại Khoản 1 Điều 50 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014, được quy định thành 3 giai đoạn cụ thể như sau: 7 Giai đoạn chuẩn bị dự án gồm các công việc: Tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (nếu có); lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng để xem xét, quyết định đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án; Giai đoạn thực hiện dự án gồm các công việc: Thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất (nếu có); chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; nghiệm thu công trình xây dựng hoàn thành; bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng; vận hành, chạy thử và thực hiện các công việc cần thiết khác; Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng gồm các công việc: Quyết toán hợp đồng xây dựng, bảo hành công trình xây dựng.
Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể và yêu cầu kỹ thuật của từng dự án mà người quyết định đầu tư quyết định trình tự thực hiện tuần tự hoặc kết hợp đồng thời đối với các hạng mục công việc. Khái quát trình tự quản lý một dự án đầu tư theo sơ đồ: Lập dự Triển Chủ khai Nghiệm Đánh trương án và thực thu đưa giá đầu chuẩn bị vào sử đầu tư hiện dự tư đầu tư dụng án Sơ đồ 1.1: Quy trình thực hiện dự án đầu tư (Nguồn: Ban QLDA ĐT&XD thành phố Bắc Kạn tổng hợp từ các quy định về dự án đầu tư) 8 1. Dự án đầu tư xây dựng Theo Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014, Dự án đầu tư xây dựng là “tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng”.
[15] Phân loại dự án đầu tư xây dựng: - Phân loại theo quy mô và tính chất của dự án đầu tư xây dựng công trình: Căn cứ vào tính chất và quy mô, dự án đầu tư xây dựng công trình được phân thành dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B, C. - Phân loại theo nguồn vốn đầu tư: + Dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước. + Dự án sử dụng nguồn vốn nhà nước ngoài ngân sách. + Dự án sử dụng vốn khác.
- Theo các bước lập dự án: Dự án đầu tư xây dựng công trình chỉ cần yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng gồm: Công trình xây dựng sử dụng cho mục đích tôn giáo và công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng (không bao gồm tiền sử dụng đất). Theo quy định tại khoản 21 Điều 3 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014, hoạt động xây dựng gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng và hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình. 9 Dự án đầu tư xây dựng là một loại công việc mang tính chất một lần, cần có một lượng đầu tư nhất định, trải qua một loạt các trình tự. Dự án đầu tư xây dựng có những đặc trưng cơ bản sau: - Được cấu thành bởi một hoặc nhiều công trình thành phần có mối liên hệ nội tại chịu sự quản lý thống nhất trong quá trình đầu tư xây dựng.
- Hoàn thành công trình là một mục tiêu đặc biệt trong điều kiện ràng buộc nhất định về thời gian, về nguồn lực, về chất lượng, về chi phí đầu tư và về hiệu quả đầu tư. - Phải tuân theo trình tự đầu tư xây dựng cần thiết từ lúc đưa ra ý tưởng đến khi công trình hoàn thành đưa vào sử dụng. - Mọi công việc chỉ thực hiện một lần: Đầu tư một lần, địa điểm xây dựng cố định một lần, thiết kế và thi công đơn nhất. Dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước Đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước là một bộ phận của đầu tư phát triển.
Đây là quá trình bỏ vốn từ nguồn ngân sách nhà nước để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản (XDCB) nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các tài sản cố định trong nền kinh tế. Do vậy đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN là tiền đề quan trọng trọng quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng. Đầu tư XDCB là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế xã hội, nhằm thu được lợi ích với nhiều hình thức khác nhau. Đầu tư XDCB trong nền kinh tế quốc dân được thông qua nhiều hình thức như: xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hóa hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế.
Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước kể cả các dự án thành phần, Nhà nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng từ việc xác định chủ trương đầu tư, lập dự án, quyết định đầu tư, lập thiết kế, tổng dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và 10 đưa công trình vào khai thác sử dụng. Người quyết định đầu tư có trách nhiệm bố trí đủ vốn theo tiến độ thực hiện dự án, nhưng không quá thời gian quy định đối với từng dự án theo nhóm C hoặc B.