1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI NGUYỄN THỊ THANH PHƢƠNG ĐỀ TÀI: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TẠI BAN QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƢ VÀ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG THUỘC SỞ GIAO THÔNG VẬN TẢI TIỀN GIANG GIAI ĐOẠN 2012 - 2020 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HÀ NỘI-2013 2 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI NGUYỄN THỊ THANH PHƢƠNG ĐỀ TÀI: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TẠI BAN QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƢ VÀ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG THUỘC SỞ GIAO THÔNG VẬN TẢI TIỀN GIANG GIAI ĐOẠN 2012 – 2020 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH : KINH TẾ XÂY DỰNG MÃ SỐ: 60.08 NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. CHU XUÂN NAM HÀ NỘI-2013 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƢ VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 3 1. DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH: 1. Dự án: Có nhiều cách định nghĩa dự án.
Tùy theo mục đích mà nhấn mạnh một khía cạnh nào đó. - Trên phương diện phát triển, có hai cách hiểu về dự án: + Cách hiểu “tĩnh”: Dự án là hình tượng về một tình huống mà ta muốn đạt tới + Cách hiểu “động”: Theo nghĩa chung nhất, dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới. Như vậy theo định nghĩa này thì dự án không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác định; Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng mà tạo nên một thực thể mới. - Trên phương diện quản lý: Dự án là những nổ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất.
Đầu tư: Có nhiều khái niệm về đầu tư, tùy thuộc vào quan điểm và mục đích nghiên cứu mà khái niệm đầu tư được hiểu như sau: - Theo quan điểm kinh tế: Đầu tư là hoạt động bỏ vốn để tạo ra một tài sản để tài sản này có thể tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất nối tiếp nhau để đạt được mục đích của nười bỏ vốn. - Theo quan điểm tài chính: Đầu tư là một chuỗi hoạt động chi tiền của chủ đầu tư, từ đó chủ đầu tư sẽ nhận một chuỗi tiền tệ để đảm bảo hoàn trả vốn và trang trải mọi chi phí liên quan và có lãi. - Theo quan điểm kế toán: Đầu tư là gắn liền với một số khoản chi vào động sản hoặc bất động sản để tạo nên các khoản thu lớn hơn. Như vậy, dù khái niệm đầu tư được hiểu theo quan điểm nào đi nữa thì cũng có điểm chung là: Đầu tư là hoạt động bỏ vốn trong một khoảng thời gian nhất định để đạt được mục đích của chủ đầu tư thông qua hoạt động đầu tư.
4 Vậy đầu tư là hoạt động bỏ vốn (vốn có thể bằng tiền, tài sản hoặc thời gian lao động) để đạt được mục đích sinh lợi của chủ đầu tư thông qua hoạt động đầu tư. Dự án đầu tư: - Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định. - Dự án đầu tư có thể được xem xét ở nhiều góc độ: + Về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập tài liệu mang tính pháp lý, mà ở đó được trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. + Trên góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ quản lý mà ở đó được hoạch định về việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả kinh tế tài chính trong một thời gian dài.
+ Trên góc độ kế hoạch hóa: Dự án đầu tư là một công cụ để thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề cho quyết định đầu tư và tài trợ. Dự án đầu tư là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hóa nền kinh tế nói chung. + Trên góc độ về nội dung: Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hóa nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong môt thời gian nhất định. - Dù được xem xét ở bất kỳ góc độ nào thì một dự án đầu tư cũng gồm các thành phần chính như sau: + Mục tiêu của dự án: Mục tiêu của dự án thể hiện mục đích đầu tư của chủ đầu tư đó là thu được lợi ích thông qua kết quả hoạt động của dự án đầu tư.
Mục tiêu của chủ đầu tư bao gồm: Mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài. Mục tiêu trước mắt là mục đích cụ thể cần đạt được thông qua việc thực hiện dự án. + Các kết quả: Đó là kết quả cụ thể có định hướng được tạo ra từ các hoạt động của dự án, là điều kiện cần thiết để thể hiện mục tiêu dự án. + Các hoạt động: Là những nhiệm vụ hoặc hành động cần được thực hiện nhằm tạo ra kết quả nhất định.
Các hoạt động của dự án là tạo ra các kế hoạch làm 5 việc của dự án, đó là việc định rõ nhiệm vụ, thời gian cần thực hiện, trách nhiệm của các bộ phận tham gia vào quá trình thực hiện dự án. + Các nguồn lực: Là việc định ra kế hoạch nhu cầu, kế hoạch cung cấp về nguồn lực: tài chính, nhân lực, … và các nhu cầu cần thiết khác để tiến hành các hoạt động của dự án. - Dự án đầu tư xây dựng công trình là những dự án đầu tư phải thông qua hoạt động xây dựng để thực hiện được mục đích đầu tư. - Đối với lĩnh vực xây dựng cơ bản có thể đưa ra một khái niệm về dự án đầu tư như sau: Dự án đầu tư là văn kiện mà ở đó bằng phương pháp khoa học, người ta luận cứ được tổng hợp các giải pháp kinh tế - kỹ thuật về việc bỏ vốn để cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng mới công trình, những biện pháp tổ chức khai thác nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình để phục vụ nhu cầu của xã hội và đạt được hiệu quả kinh tế trong khoảng thời gian nhất định.
Đặc điểm, vai trò của dự án đầu tƣ: 1. Đặc điểm cơ bản của dự án: - Dự án có mục đích, có yêu cầu chặt chẽ về kết quả, chất lượng, chi phí và thời gian: Dự án là một hệ thống phức tạp, được phân chia thành nhiều bộ phận, phân hệ khác nhau để thực hiện và quản lý nhưng đều phải thống nhất đảm bảo các mục tiêu chung về thời gian, chi phí và việc hoàn thành với chất lượng cao. - Dự án có vòng đời riêng từ lúc hình thành phát triển đến khi kết thúc và có thời gian tồn tại hữu hạn: Một dự án bao giờ cũng có quá trình hình thành, phát triển và kết thúc. Khi dự án kết thúc, kết quả dự án được chuyển giao cho bộ phận quản lý vận hành, sau đó nhóm quản lý dự án giải tán.
- Sản phẩm của dự án mang tính sáng tạo, đơn chiếc, duy nhất, độc đáo (mới lạ): Khác với quá trình sản xuất, kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt mà có tính khác biệt cao. Sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất, hầu như không lặp lại. Tuy nhiên cũng có một số dự án, tính duy nhất ít rõ ràng hơn và dễ bị che đậy bởi tính tương tự giữa chúng. Nhưng điều khẳng định là chúng vẫn có thiết kế khác nhau, vị trí khác nhau,…Điều ấy cũng tạo nên nét sáng tạo, duy nhất và mới lạ của dự án.
6 - Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án: Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như: Chủ đầu tư, các nhà tư vấn, đơn vị thi công, người hưởng thụ dự án và cơ quan quản lý nhà nước,…Các bộ phận này có chức năng khác nhau và sự tham gia vào dự án cũng khác nhau nhưng phải thường xuyên liên hệ với nhau để cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ để đạt được mục tiêu chung của dự án đã đề ra. - Môi trường hoạt động “va chạm”, phức tạp, bất định và rủi ro: Quan hệ giữa các dự án là quan hệ chia nhau cùng một nguồn lực khan hiếm của tổ chức. Dự án “ cạnh tranh” lẫn nhau và với các hoạt động tổ chức sản xuất khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị,…Trong đó có “hai thủ trưởng” nên không biết phải thực hiện mệnh lệnh của cấp trên trực tiếp nào nếu hai mệnh lệnh lại mâu thuẫn nhau…Do đó môi trường quản lý dự án có nhiều quan hệ phức tạp nhưng cũng đầy năng động. Dự án có tính bất định và rủi ro cao bởi vì hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tư và lao động rất lớn để thực hiện trong khoảng thời gian nhất định.
Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án thường có mức độ rủi ro cao và các dự án không chịu cùng một mức độ rủi ro và mức độ không chắc chắn mà phụ thuộc vào quy mô dư án, công nghệ sử dụng, mức độ đòi hỏi của các ràng buộc về chất lượng, thời gian, chi phí, tính phức tạp và tính không thể dự báo được của môi trường dự án,… - Dự án sử dụng các nguồn lực có hạn: tài chính, nhân lực, vật lực. Ngoài các đặc trưng cơ bản trên, dự án còn có một số đặc trưng như: - Tính giới hạn về thời gian thực hiện. - Bị gò bó trong những ràng buộc nghiêm ngặt: yêu cầu về tính năng sử dụng, các chỉ tiêu kỹ thuật,… 1.