Phần mở đầu Chương 2: Cơ sở lý luận về đầu tư xây dựng cơ bản và quản lý đầu tư xây dựng cơ bản. Chương 3: Phân tích thực trạng công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản tại Tập đoàn Dệt may Việt Nam giai đoạn 2013-2017 Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản tại Tập đoàn Dệt may Việt Nam đến 2025. Tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Hồng Minh – thầy đã trực tiếp hướng dẫn và giúp tôi trong suốt quá trình hoàn thành đề tài này, cũng như được gửi lời cảm ơn đến các giáo sư, tiến sĩ giảng viên Khoa Kinh tế Đầu tư trường Đại học Kinh tế Quốc dân, các bạn bè và lãnh đạo tại Tập đoàn Dệt may Việt Nam đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài. Tôi mong muốn tiếp tục nhận được và chân thành cảm ơn những góp ý và bổ sung để luận văn được hoàn thiện hơn.
5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN VÀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN 2. Khái niệm về đầu tư xây dựng cơ bản 2. Đầu tư xây dựng cơ bản 2. Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản Xây dựng cơ bản và đầu tư Xây dựng cơ bản là những hoạt động với chức năng tạo ra tài sản cố định cho nền kinh tế thông qua các hình thức xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hoá hoặc khôi phục các tài sản cố định.
Đầu tư Xây dựng cơ bản là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các tài sản cố định trong nền kinh tế. Do vậy đầu tư Xây dựng cơ bản là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng. Đầu tư Xây dựng cơ bản là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhằm thu đựơc lợi ích với nhiều hình thức khác nhau. Đầu tư Xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân được thông qua nhiều hình thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế.
Xét theo nội dung đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm các nội dung sau: Đầu tư xây dựng nhà xưởng, các công trình kiến trúc, kho tàng, bến bãi, phương tiện vận tải, truyền dẫn. Đầu tư mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị, thiết bị sản xuất. Đầu tư sủa chữa, nâng cấp, cải tạo những tài sản hư hỏng, lỗi thời. muốn việc kinh doanh không bị ngừng trệ, doanh nghiệp phải đầu tư để nâng cấp nhà xưởng, máy móc thiết bị.
hoạt động đầu tư này cần được tiến hành theo quy hoạch, phù hợp với yêu cầu sản xuất và quy mô của doanh nghiệp Đầu tư vào tải sản cố định khác. Để đầu tư hoạt động, phải mua sắm trang thiết bị văn phòng, thiết bị dụng cụ cho quản lý. Đặc điểm chung của đầu tư Xây dựng cơ bản Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của đầu tư phát triển do vậy nó cũng mang những đặc điểm của đầu tư phát triển. a) Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản thường rất lớn: Vốn đầu tư đầu tư xây dựng cơ bản là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những chi phí đã chi ra để tạo năng lực sản xuất (tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động) và các hoạt động đầu tư khác.
Vốn đầu tư nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Quy mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hợp lý, xây dựng các chính sách, quy hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng vốn đầu tư, bố trí vốn theo tiến độ đầu tư, thực hiện đầu tư trọng tâm trọng điểm. Lao động là những nguồn lực cần thiết và quan trọng nhất quyết định sự thành công hay thất bại của hoạt động đầu tư. Lao động cần sử dụng cho các dự án Đầu tư xây dựng cơ bản rất lớn.
Do đó, công tác tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ cần tuân thủ một kế hoạch định trước, sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu từng loại nhân lực theo tiến độ đầu tư, đồng thời, hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực do vấn đề “hậu dự án” tạo ra như việc bố trí lao động, giải quyết lao động đang thiếu việc làm. b) Thời kì đầu tư kéo dài: Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động. Nhiều công trình đầu tư xây dựng cơ bản có thời gian đầu tư kéo dài hàng chục năm. Do vốn lớn lại nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, cần tiến hành phân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm các hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
c) Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài: Thời gian vận hành các kết quả đầu tư được tính từ khi công trình đưa vào hoạt động cho đến khi hết thời hạn sử dụng và đào thải công trình. Trong suốt quá trình 7 vận hành, các thành quả đầu tư chịu sự tác động hai mặt, cả tích cực và tiêu cực, của nhiều yếu tố tự nhiên, chinhs trị, kinh tế, xã hội…Để thích ứng với các đặc điểm này, công tác quản lý hoạt động đầu tư cần chú ý một số nội dung sau: Thứ nhất, cần xây dựng cơ chế và phương pháp dự báo khoa học cả ở cấp vĩ mô và vi mô về nhu cầu thị trường đối với sản phẩm đầu tư tương lai, dự kiến khả năng cung ứng từng năm và toàn bộ vòng đời dự án Thứ hai, quản lý tốt quá trình vận hành, nhanh chóng đưa các thành quả đầu tư vào sử dụng, hoạt động tối đa công suất để nhanh chóng thu hồi vốn, tránh hao mòn vô hình Thứ ba, chú ý đúng mức đến yếu tố độ trễ thời gian trong đầu tư. Đầu tư trong năm nhưng thành quả đầu tư chưa chắc đã phát huy tác dụng ngay trong năm đó mà từ những năm sau và kéo dài trong nhiều năm. Đây là đặc điểm rất riêng của lĩnh vực đầu tư, ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý hoạt động đầu tư d) Các thành quả của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản là các công trình xây dựng phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên, do đó, quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng Không dễ dàng di chuyển các công trình đã đầu tư từ nơi này sang nơi khác, nên công tác quản lý hoạt động đầu tư phát triển cần phải quán triệt đặc điểm này trên một số nội dung sau: Trước tiên cần phải có chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư đúng.
Đầu tư cái gì, công suất bao nhiêu là hợp lý…cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng dựa trên những căn cứ khoa học. Thí dụ, công suất xây dựng nhà máy sàng tuyển than ở khu vực có mỏ than (do đó, qui mô vốn đầu tư phụ thuộc rất nhiều vào trữ lượng than của mỏ. Nếu trữ lượng than của mỏ ít thì quy mô nhà máy sàng tuyển không nên lớn để đảm bảo cho nhà máy hàng năm hoạt động hết công suất với số năm tồn tại của nhà máy theo dự kiến trong dự án. Lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lý.
Để lựa chọn địa điểm đầu tư đúng phải dựa trên căn cứ khoa học, dựa vào hệ thống các chỉ tiêu kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, văn hóa….Cần xây dựng một bộ chỉ tiêu khác nhau và nhiều phương án so sánh để lựa chọn 8 vùng lãnh thổ và địa điểm đầu tư hợp lý nhất sao cho khai thác tối đa lợi thế vùng và không gian đầu tư cụ thể, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả vốn đầu tư. e) Độ rủi ro cao Do qui mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài nên mức độ rủi ro cho hoạt động đầu tư phát triển thường cao. Rủi ro đầu tư do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân chủ quan từ phía các nhà đầu tư như: quản lý kém, chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu,… nhưng bên cạnh đó có những nguyên nhân khách quan như: giá nguyên vật liệu tăng, giá bán sản phẩm giảm, công suất sản xuất không đạt công suất thiết kế… Ví dụ để nghiên cứu tính khả thi về mặt thị trường, chủ đầu tư phải nghiên cứu tình hình cung, cầu, giá cả…của sản phẩm, dự án xây dựng dòng tiền thu, chi và tính được tổng lợi nhuận thuần cả vòng đời dự án. Tổng lợi nhuận thuần càng lớn, quyết định đầu tư càng dễ dàng.
Tuy nhiên, nếu khi dự án đi vào hoạt động, giá cả sản phẩm giảm và chi là 5000đ, thì trong điều kiện khác không đổi, tổng lợi nhuận thuần của dự án đạt 50% so với dự kiến ban đầu. Đây là rủi ro do giá bán sản phẩm giảm. Như vậy, để quản lý hoạt động đầu tư phát triển hiệu quả, cần phải thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro bao gồm: Thứ nhất, nhận diện rủi ro đầu tư. Có nhiêu nguyên nhân rủi ro, do vậy xác định được đúng nguyên nhân rủi ro sẽ là khâu quan trọng đầu tiên để tìm ra giải pháp phù hợp để khắc phục.
Thứ hai, đánh giá mức độ rủi ro. Rủi ro xảy ra có khi rất nghiêm trọng, nhưng có khi chưa đến mức gây nên những thiệt hại về kinh tế. Đánh giá đúng mức độ rủi ro sẽ giúp đưa ra biện pháp phòng và chống phù hợp. Thứ ba, xây dựng các biện pháp phòng và chống rủi ro.
Mỗi loại rủi ro và mức độ rủi ro nhiều hay ít sẽ có biện pháp phòng và chống tương ứng nhằm hạn chế đến mức mức thấp nhất các thiệt hại có thể có do rủi ro này gây ra 2.