CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH SEKONG GIAI ĐOẠN 2021 – 2023 1. Nội dung quản lý chi Ngân sách Nhà nước và tiêu chí đánh giá kết quả quản lý chi Ngân sách Nhà nước 1. Nội dung quản lý chi Ngân sách Nhà nước 1. Lập dự toán chi Ngân sách Nhà nước Dự toán chi NSNN được xây dựng theo đúng quy định của Luật NSNN, Luật Đầu tư công và quy định của pháp luật khác có liên quan; đúng quy định của HĐND tỉnh về nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển, chi thường xuyên NSNN; đáp ứng yêu cầu cơ cấu lại ngân sách, chủ trương sắp xếp lại tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế trong hệ thống chính trị, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động khu vực sự nghiệp công lập theo các Nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị.
Đảm bảo nguồn lực thực hiện cải cách tiền lương, chính sách bảo hiểm xã hội gắn với đẩy mạnh sắp xếp tổ chức bộ máy gắn với lộ trình tính giảm biên chế theo các Nghị quyết của Trung ương. Thực hiện nguyên tắc công khai, minh bạch và yêu cầu thực hành tiết kiệm chống lãng phí ngay từ khâu xác định nhiệm vụ, đảm bảo việc thực hiện các nhiệm vụ thống nhất từ khâu lập dự toán đến triển khai phân bổ, quản lý, sử dụng NSNN. Sát khả năng thực hiện, hạn chế tối đa việc hủy dự toán và chuyển nguồn sang năm sau. Trên cơ sở đánh giá thực hiện năm trước, các cơ quan, đơn vị và các huyện, thành phố rà soát các nhiệm vụ trùng lắp; nhiệm vụ dở dang tiếp tục thực hiện năm nay; sắp xếp thứ tự ưu tiên thực hiện các nhiệm vụ phát sinh mới đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo mức độ cấp thiết, quan trọng và khả năng triển khai thực hiện, dự toán NSNN thực hiện phù hợp với khả năng huy động, cân đối các nguồn lực.
Chấp hành dự toán chi Ngân sách Nhà nước Chấp hành dự toán chi ngân sách là việc chuyển giao, sử dụng đúng mục đích, đúng kế hoạch dự toán và đúng chế độ, thể lệ hiện hành qua các nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước, thông qua hoạt động của cơ quan tài chính và các đơn vị sử dụng 5 ngân sách nhằm thực hiện các chương trình hoạt động của Nhà nước trên mọi lĩnh vực trong năm tài chính. Công tác chấp hành dự toán chi NSNN tại STC tỉnh Sekong được thực hiện bởi KBNN tỉnh Sekong bao gồm: triển khai dự toán thu - chi của các cơ quan khối Đảng, an ninh quốc phòng, huyện, thị xã và chịu trách nhiệm theo dõi nguồn NSNN tỉnh; các cơ quan hành chính sự nghiệp cấp tỉnh; triển khai dự toán chi đầu tư xây dựng cơ bản; triển khai dự toán chi của các doanh nghiệp có vốn sở hữu Nhà nước trên địa bàn tỉnh. Công tác chấp hành dự toán chi NSNN phải tuân thủ các điều kiện chi ngân sách nhà nước Thứ nhất, đối với chi thường xuyên phải bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, trường hợp các cơ quan, đơn vị đã được cấp có thẩm quyền cho phép thực hiện theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí thì thực hiện theo quy chế chỉ tiêu nội bộ và phù hợp với dự toán được giao tự chủ. Ngoài ra, để tạo chủ động cho cơ quan thu cũng như đơn vị sử dụng ngân sách, pháp luật cũng quy định kinh phí cho thường xuyên cần được chia đều trong năm.
Thứ hai, đối với chi đầu tư phát triển phải tuân thủ theo các điều kiện của đầu tư công và xây dựng. Thứ ba, đối với khoản chi dự trữ quốc gia phải tuân thủ các điều kiện của pháp luật về dự trữ quốc gia. Thứ tư, đối với những gói thầu thuộc các nhiệm vụ, chương trình, dự án cần phải đấu thầu để lựa chọn nhà thầy cung cấp dịch vụ tư vấn, mua sắm hàng hoá, xây lắp phải tổ chức đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu. Thứ năm, đối với những khoản chi cho công việc thực hiện theo phương thức Nhà nước đặt hàng, giao kế hoạch phải theo quy định về giá hoặc phí và lệ phí do cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Chấp hành dự toán chi thường xuyên trong giai đoạn này tại STC tỉnh Sekong được thực hiện quản lý chi NSNN theo kế hoạch hàng năm hay còn gọi là quản lý 6 theo chu trình NSNN bao gồm các giai đoạn: Phân bổ và giao dự toán chi NSNN; Điều chỉnh, bổ sung dự toán chi NSNN; Kiểm tra, giám sát các khoản chi NSNN. Việc quản lý NSNN theo chu trình NSNN cho phép tính toán tương đối sát nguồn lực tài chính có thể có được, qua đó giúp cho việc bố trí chi tiêu tương ứng với năng lực thực tế. Cách làm đó có ưu điểm là dễ làm, ít phải điều chỉnh dự toán và nếu có thì mức độ điều chỉnh không lớn so với dự toán đã lập đầu năm. Song trong điều hành NSNN gặp nhiều khó khăn, vướng mắc như có nhiều công việc kéo dài trong nhiều năm, nhưng khi kết thức từng năm, phải quyết toán chi tiêu năm đó trong khi công việc chưa kết thúc; ngoài ra, không cho phép tính toán nguồn lực tương đối chính xác trong trung hạn vì không căn cứ vào dự báo vĩ mô, điều đó gây khó khăn trong việc xây dựng chính sách chi tiêu trung hạn.
Kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước Kiểm soát chi ngân sách nhà nước được hiểu là việc cơ quan có thẩm quyền thực hiện thẩm định, kiểm tra, rà soát, xem xét và đánh giá tính pháp, hợp lý của các khoản chi ngân sách nhà nước do các chủ thể thực hiện, dựa trên sự đối chiếu với các chính sách, chế độ định mức chi tiêu do nhà nước quy định và trên cơ sở những nguyên tắc, hình thức phương pháp quản lý tài chính trong từng giai đoạn. Hay nói cách khác, kiểm soát chi ngân sách nhà nước “là quá trình thẩm định và kiểm tra các khoản chi ngân sách nhà nước theo đúng chế độ chi ngân sách nhà nước và theo dự toán chi tiêu đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua”. Kiểm soát chi ngân sách nhà nước có những đặc trưng cơ bản sau: - Hoạt động kiểm soát chi ngân sách nhà nước bao giờ cũng được thể hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, dựa trên cơ sở quyền lực chính trị của nhà nước. - Kiểm soát chi ngân sách nhà nước vừa mang tính chất là một hoạt động quản lý nhà nước về tài chính, vừa có tính chất như một hành vi quản trị tài chính nhà nước.
Tính chất quản lý hành chính nhà nước của hoạt động đặc biệt này thể hiện ở chỗ dựa vào quyền lực công, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm soát chi ngân sách nhà nước có thể đưa ra các quyết định hành chính hoặc thực hiện các hành vi hành 7 chính đối với các chủ thể sử dụng ngân sách nhà nước, vốn là đối tượng bị kiểm soát quản lý. Khi cần thiết, các cơ quan hành chính hoàn toàn có thể áp dụng các chế tài hành chính đối với các chủ thể này do những hành vi vi phạm pháp luật của họ trong quá trình sử dụng ngân sách nhà nước. Mặt khác, tính chất quản trị tài chính của công vụ đặc biệt này được thể hiện ở chỗ chi ngân sách nhà nước vỗn dĩ là hoạt động tài chính của nhà nước nên việc nhà nước tiến hành kiểm soát chi ngân sách nhà nước chẳng khác nào một doanh nghiệp hay một tổ chức xã hội tự quản giá trị tài sản, tài chính của mình. Xét ở góc độ này, hoạt động kiểm soát chi ngân sách nhà nước được nhìn nhận chủ yếu thông qua những biện pháp chủ yếu thông qua những biện pháp mang tính kỹ thuật nghiệp vụ quản trị tài chính hơn là những hành vi mang tính chất tài chính.
- Đối tượng của hoạt động kiểm soát chi ngân sách nhà nước chính là hoạt động chi ngân sách do các cơ quan chức năng cũng như các chủ thể sử dụng ngân sách thực hiện. Đặc điểm này chủ yếu để phân biệt giữa hoạt động kiểm soát chi ngân sách với các hoạt động tài chính khác của nhà nước như hoạt động thu ngân sách, hoạt động chi ngân sách. Việc kiểm soát chi NSNN cũng chính là việc đảm bảo đúng điều kiện chi NSNN như đã đề cập tại phần chấp hành dự toán NSNN. Quyết toán chi Ngân sách Nhà nước Trong các khâu của chu trình quản lý NSNN, quyết toán là khâu cuối cùng, qua đó đánh giá lại toàn bộ NSNN sau một năm thực hiện, từ khâu lập dự toán, khâu phân bổ cũng như chấp hành và điều hành NSNN.
Số liệu và tình hình quyết toán NSNN là cơ sở để các cơ quan quản lý phân tích, đánh giá tình hình tài chính - ngân sách của quốc gia, từ đó có những quyết sách phù hợp nhằm quản lý tối ưu nguồn lực tài chính - ngân sách trong giai đoạn tiếp theo. Nguyên tắc quyết toán ngân sách nhà nước: - Theo nguyên tắc đầy đủ, tất cả các nghiệp vụ thu, chi đều phải hạch toán và quyết toán với ngân sách nhà nước. Ngoài các khoản thu chi cân đối ngân sách còn phải báo cáo kèm theo các khoản có liên quan chặt chẽ với ngân sách nhà nước như 8 các quỹ: Dự trữ tài chính, bảo hiểm xã hội, hỗ trợ phát triển, hỗ trợ xuất khẩu. Ngoài ra, còn phải báo cáo kèm các khoản thuế miễn giảm, các khoản thu để lại chi.
Đa số các nước quy định nội dung của quyết toán ngân sách nhà nước, các tài liệu báo cáo kèm quyết toán ngân sách nhà nước. - Việc quyết toán ngân sách nhà nước phải đảm bảo thống nhất từ cơ sở đến cơ quan quản lý tài chính ngân sách. Thể hiện từ khâu hạch toán kế toán cho đến khi tổng hợp quyết toán, kiểm toán quyết toán ngân sách nhà nước. Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi trước hết sự thống nhất trong việc tổ chức hệ thống thông tin về ngân sách.
Thông tin kế toán phải thống nhất từ kế toán đơn vị sử dụng ngân sách cho đến hệ thống quản lý quỹ ngân sách, kế toán của các cấp ngân sách. Ngoài ra, sự thống nhất thể hiện trong việc tổ chức quyết toán ngân sách nhà nước từ khâu hạch toán kế toán đến khâu lập quyết toán của đơn vị cơ sở, xét duyệt, thẩm định quyết toán, kiểm toán quyết toán, thẩm tra, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước.