Luận văn thạc sĩ về hoàn thiện pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu ls hoàn thiện pháp luật thuế giá trị giá tăng ở việt nam trong giai đoạn hiện nay, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2010

105
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

1.1. Khái niệm, đặc điểm của thuế giá trị gia tăng

1.2. Khái niệm thuế giá trị gia tăng

1.3. Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng

1.4. Những vấn đề lý luận chung về pháp luật thuế giá trị gia tăng

1.5. Khái niệm pháp luật thuế giá trị gia tăng

1.6. Những nội dung chủ yếu của pháp luật thuế giá trị gia tăng

1.7. Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng và sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng

1.8. Thời điểm phát sinh của nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng

1.9. Phạm vi, mức độ nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng

2. CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG Ở VIỆT NAM

2.1. Quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam

2.2. Cơ cấu nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ thu nộp thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam

2.3. Thực trạng pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam

2.4. Đánh giá chung

2.5. Nội dung và những vấn đề đặt ra đối với pháp luật thuế giá trị gia tăng ở nước ta hiện nay

2.6. Phạm vi áp dụng thuế giá trị gia tăng

2.7. Căn cứ tính thuế và phương pháp tính thuế

2.8. Khấu trừ thuế giá trị gia tăng

2.9. Đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế giá trị gia tăng

3. CHƯƠNG 3: NGUYÊN TẮC, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

3.1. Nguyên tắc và phương hướng hoàn thiện pháp luật thuế giá trị gia tăng

3.2. Nguyên tắc hoàn thiện

3.3. Phương hướng hoàn thiện

3.4. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế giá trị gia tăng và một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung luật thuế giá trị gia tăng

3.5. Sửa đổi bổ sung một số qui định về phạm vi điều chỉnh của pháp luật thuế giá trị gia tăng

3.6. Qui định ngưỡng doanh thu chịu thuế giá trị gia tăng

3.7. Bổ sung một số qui định về phạm vi lãnh thổ của nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng

3.8. Hoàn thiện các qui định về căn cứ tính thuế và phương pháp tính thuế

3.9. Về thuế suất

3.10. Về phương pháp tính thuế

3.11. Bỏ một số quy định về các trường hợp được hoàn thuế

3.12. Bổ sung điều luật về giải thích từ ngữ

3.13. Bỏ quy định không cho khấu trừ thuế giá trị gia tăng đối với các hóa đơn, chứng từ kê khai quá thời hạn sáu tháng

3.14. Sử dụng đúng nghĩa của từ để tránh tình trạng áp dụng pháp luật tùy tiện

3.15. Bổ sung quy định cho phép khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng đối với các hóa đơn phát sinh trước thời điểm doanh nghiệp liên doanh được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

3.16. Bổ sung quy định về thời điểm xác định thuế giá trị gia tăng vào Luật Thuế giá trị gia tăng

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam

Pháp luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) ở Việt Nam đã được ban hành từ năm 1997 và đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung. Luật này không chỉ là một công cụ quan trọng trong việc quản lý thuế mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết để hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật này.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của thuế giá trị gia tăng

Thuế GTGT là một loại thuế gián thu, được tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa và dịch vụ trong quá trình sản xuất và tiêu dùng. Đặc điểm nổi bật của thuế GTGT là nó không đánh vào toàn bộ giá trị hàng hóa mà chỉ đánh vào phần giá trị gia tăng tại mỗi công đoạn.

1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của thuế GTGT ở Việt Nam

Luật thuế GTGT được áp dụng lần đầu tiên tại Việt Nam vào năm 1999, thay thế cho thuế doanh thu. Qua thời gian, luật đã được điều chỉnh để phù hợp với tình hình kinh tế và xã hội, nhằm đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

II. Thực trạng pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam hiện nay

Mặc dù đã có nhiều cải cách, nhưng thực trạng pháp luật thuế GTGT vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề. Các quy định về đối tượng chịu thuế, thuế suất và khấu trừ thuế còn nhiều bất cập, gây khó khăn cho doanh nghiệp và ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách.

2.1. Đánh giá chung về thực trạng thuế GTGT

Thực trạng cho thấy, việc áp dụng thuế GTGT hiện nay còn nhiều bất cập, như việc xác định đối tượng chịu thuế chưa rõ ràng, dẫn đến tình trạng trốn thuế và thất thu ngân sách.

2.2. Những vấn đề đặt ra đối với pháp luật thuế GTGT

Các vấn đề như quy định về khấu trừ thuế, thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế và phương pháp tính thuế cần được xem xét lại để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong việc thu thuế.

III. Giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam

Để hoàn thiện pháp luật thuế GTGT, cần có những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả thu thuế và giảm thiểu các bất cập hiện tại. Các giải pháp này bao gồm việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật và cải cách quy trình thu thuế.

3.1. Sửa đổi quy định về đối tượng chịu thuế

Cần xác định rõ ràng hơn về đối tượng chịu thuế GTGT để tránh tình trạng trốn thuế và đảm bảo tính công bằng trong việc thu thuế.

3.2. Cải cách phương pháp tính thuế và khấu trừ thuế

Cần cải cách phương pháp tính thuế và quy định về khấu trừ thuế để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về thuế GTGT

Việc nghiên cứu và ứng dụng các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế GTGT đã cho thấy những kết quả tích cực trong việc nâng cao hiệu quả thu thuế và hỗ trợ doanh nghiệp. Các nghiên cứu cho thấy, việc cải cách thuế GTGT có thể góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững.

4.1. Kết quả nghiên cứu về tác động của thuế GTGT

Nghiên cứu cho thấy thuế GTGT có tác động tích cực đến việc thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng, đồng thời cũng tạo ra nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước.

4.2. Ứng dụng các giải pháp hoàn thiện trong thực tiễn

Các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế GTGT đã được áp dụng trong thực tiễn và đã mang lại những kết quả khả quan, giúp nâng cao hiệu quả quản lý thuế và hỗ trợ doanh nghiệp.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của pháp luật thuế GTGT

Kết luận cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật thuế GTGT là một nhiệm vụ cấp thiết nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế trong bối cảnh hội nhập. Triển vọng tương lai cho thấy, nếu các giải pháp được thực hiện hiệu quả, thuế GTGT sẽ trở thành một công cụ quan trọng trong việc quản lý kinh tế và tài chính quốc gia.

5.1. Tương lai của pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam

Tương lai của pháp luật thuế GTGT sẽ phụ thuộc vào khả năng cải cách và hoàn thiện các quy định pháp luật, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế.

5.2. Những thách thức trong việc hoàn thiện pháp luật thuế GTGT

Các thách thức như sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế và yêu cầu hội nhập quốc tế sẽ đặt ra nhiều áp lực đối với việc hoàn thiện pháp luật thuế GTGT trong tương lai.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls hoàn thiện pháp luật thuế giá trị giá tăng ở việt nam trong giai đoạn hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng Thuế ra đời là một sự cần thiết khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước, bởi thuế là nguồn lực vật chất bảo đảm cho nhà nước tồn tại và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình. Ăngghen đã chỉ rõ: "Để duy trì quyền lực công cộng cần có sự đóng góp của những người công dân cho nhà nước, đó là thuế má…" [30, tr.

Việc huy động để tập trung nguồn của cải xã hội vào trong tay nhà nước có thể thực hiện bằng nhiều cách khác nhau: đóng góp bắt buộc, vận động dân đóng góp tự nguyện hoặc vay, nhưng thuế là quan hệ thu nộp thông qua biện pháp huy động, tập trung của cải có tính bắt buộc đối với mọi thành viên trong xã hội. Việc ấn định các thứ thuế và trực tiếp thực hiện thu thuế của nhà nước là một trong những dấu hiệu cơ bản của nhà nước, cùng với các dấu hiệu khác khiến cho nhà nước khác với các tổ chức tiền nhà nước cũng như các tổ chức tồn tại song hành cùng nhà nước trong hệ thống chính trị của một nước. Dưới góc độ kinh tế - tài chính, thuế được hiểu là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng [21, tr. Dưới góc độ pháp lý, các chuyên gia về luật thuế nhận định thuế là nghĩa vụ pháp lý của các tổ chức và cá nhân phải chuyển một phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình vào NSNN khi có đầy đủ các yếu tố cấu thành do luật thuế qui định [28, tr.

4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mặc dù có nhiều cách định nghĩa về thuế nhưng chúng ta đều có thể nhận thấy nét chung sau: thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức hoặc cá nhân phải nộp cho nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định [52, tr. Thuế ban đầu xuất hiện có hình thức biểu hiện rất đơn giản dưới dạng hiện vật như quan hệ phu phen, cống nạp, sau đó chuyển dần sang hình thức giá trị. Cùng với sự phát triển, những loại thuế và hình thức thuế phức tạp hơn cũng dần hình thành. Khi nền sản xuất xã hội phát triển, năng suất lao động được nâng cao và nhu cầu chi tiêu của nhà nước tăng lên, nhà nước không ngừng cải tiến bổ sung các loại thuế để thực hiện việc quản lý nền kinh tế và tăng thêm nguồn thu cho mình.

Hiện nay, các vấn đề về thuế không chỉ dừng lại trong phạm vi từng nước mà còn mang tầm vóc quốc tế. Vì vậy, một trong những nội dung quan trọng trong việc thiết lập các mối quan hệ giữa các nước, từng khu vực và trên phạm vi toàn cầu đó là vấn đề thuế khóa. Trước khi có thuế GTGT, các nước áp dụng thuế doanh thu, tuy nhiên, loại thuế này có nhược điểm là tính trùng lắp do thuế đánh lên toàn bộ doanh thu của quá trình từ sản xuất đến tiêu dùng. Khi quá trình sản xuất ra sản phẩm càng qua nhiều khâu, của nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau thì tiền thuế trên một đơn vị sản phẩm càng nhiều do thuế đã đánh đi, đánh lại trên doanh thu và tính trùng lên cả tiền thuế nhiều lần.

Để khắc phục nhược điểm này, năm 1936, Pháp đã cải tiến thuế doanh thu từ việc tính và nộp ở từng khâu sang hình thức tính và nộp một lần vào công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất (tức là trước khi sản phẩm được đưa vào lưu thông lần đầu). Việc đánh thuế độc lập một lần như vậy khắc phục được hiện tượng đánh thuế trùng lắp, nhưng cách tính này lại phát sinh nhược điểm là việc thu thuế bị chậm trễ so với trước, vì chỉ khi hàng hóa đi vào lưu thông thì Nhà nước mới thu được thuế. Trước một thực tế là Nhà nước vừa muốn thu được nhiều thuế và thu kịp thời, vừa muốn thúc đẩy sản xuất phát triển để bồi dưỡng nguồn thu cho 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giai đoạn sau, các nhà kinh tế đã liên tục sửa đổi, bổ sung cho thuế doanh thu ngày càng hoàn thiện. Trên cơ sở đánh thuế doanh thu một lần trước khi đưa sản phẩm vào lưu thông, vào đầu những năm năm mươi, một người Đức tên là Carl Friendrich Von Simens đã nghĩ ra một chính sách thuế có thể thay thế cho thuế doanh thu, đó là thuế GTGT tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ khi qua mỗi công đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.

Thuế này ra đời đánh dấu một hướng tư duy mới và sẽ khắc phục được các nhược điểm của thuế doanh thu đã nói ở trên. Mặc dù được khai sinh ở Đức, nhưng vào thời điểm này những lý luận của Carl Friendrich Von Simens đưa ra đã không đủ sức thuyết phục được Chính phủ nên thuế GTGT không được thực hiện đầu tiên ở nước Đức. Trên thực tế thì thuế GTGT được nghiên cứu và áp dụng đầu tiên tại Cộng hòa Pháp ngày 1/7/1954 vì Pháp là một trong những nước có nền công nghiệp rất phát triển (tiến hành cách mạng công nghiệp sớm), mặt khác Pháp cũng là nước rất quan tâm đến lĩnh vực tài chính mà trọng tâm đổi mới là thuế gián thu. Ban đầu thuế GTGT ở Pháp ra đời chỉ nhằm vào một số ngành cá biệt, mãi đến năm 1968 thuế GTGT mới được áp dụng cho mọi ngành nghề và trong mọi lĩnh vực.

Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường đã chứng minh được sự thành công của việc điều tiết nền kinh tế bằng phương pháp gián tiếp là chủ yếu. Trong bối cảnh đó với những ưu điểm đặc biệt của thuế GTGT mà nó đã nhanh chóng được triển khai, áp dụng rộng rãi. Riêng tại châu Á có thể thấy rằng, thuế GTGT ngày càng trở thành một sắc thuế phổ biến trong khu vực này. Khởi đầu tại Hàn Quốc (1977) và ngay sau đó nhiều nước đã áp dụng như Indonexia (1984), Đài Loan (1986), Philippin (1988)… Hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều nước chuyển sang áp dụng thuế GTGT để hợp nhất và hiện đại hóa cơ cấu thuế khóa của mình.

Các nước thành viên của liên minh châu Âu đã chọn thuế GTGT như một giải pháp tốt 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhất để thống nhất việc đánh thuế, khuyến khích quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tăng năng suất lao động. Khi được đưa vào hệ thống luật thuế, nguồn thu từ thuế GTGT đã trở thành một phần quyết định trong tổng thu đối với các nước sử dụng nó. Thuật ngữ thuế GTGT, tiếng anh là Value Added Tax (VAT), tiếng pháp là Taxe Sur la Valeur Ajoutee (TAV), thường được dùng để chỉ một loại thuế gián thu, tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Vì thuế được tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ nên đối tượng nộp thuế phải là các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có giá trị tăng thêm, nhưng thực chất phần thuế mà họ nộp lại do người mua hàng hóa, dịch vụ phải thanh toán khi trả tiền hàng hóa, dịch vụ.

Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng Dựa vào các đặc điểm của thuế GTGT, chúng ta có thể nhận diện thuế GTGT với các loại thuế khác. Thứ nhất, thuế GTGT là thuế gián thu. Dưới giác độ kinh tế -tài chính thuế gián thu là thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập và tài sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa và dịch vụ [21, tr. Dưới giác độ pháp lý, thuế gián thu được hiểu là loại thuế mà người gánh chịu thuế là khách hàng, nhưng người nộp thuế lại là người bán hàng, nhà nhập khẩu [52, tr.

Nói cách khác, thuế gián thu là việc người tiêu dùng (người chịu thuế) chuyển một phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình vào NSNN thông qua một người thứ ba - người sản xuất, kinh doanh (người nộp thuế). Xét trong mối quan hệ tay ba: nhà nước, người chịu thuế và người nộp thuế thì người nộp thuế đóng vai trò trung gian thu thuế hộ nhà nước rồi nộp vào NSNN. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đối với thuế GTGT, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực hiện thu thuế GTGT khi bán các hàng hóa, dịch vụ. Tiền thuế GTGT được tính trên cơ sở giá bán hàng hóa, dịch vụ và người mua phải trả trong giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ.

Sau khi bán được hàng hóa, dịch vụ các cơ sở sản xuất kinh doanh nộp thuế vào NSNN thay cho người tiêu dùng. Như vậy, người mua không trực tiếp nộp thuế GTGT vào NSNN mà trả thuế thông qua giá thanh toán hàng hóa và dịch vụ cho người bán, trong đó bao gồm cả khoản thuế GTGT. Người bán thực hiện nộp khoản thuế GTGT phải nộp (đã được người mua trả) vào NSNN. Do đối tượng nộp thuế GTGT và đối tượng chịu thuế GTGT không đồng nhất, thuế GTGT được coi là một loại thuế gián thu điển hình.

Sự không đồng nhất giữa người nộp thuế và người chịu thuế dẫn đến thân phận pháp lý của mỗi đối tượng là khác nhau, có những quyền và nghĩa vụ khác nhau. Vì vậy, đối với thuế GTGT nói riêng và thuế gián thu nói chung việc phân biệt người chịu thuế và người nộp thuế rất quan trọng về phương diện pháp lý. Trong nhiều trường hợp người nộp thuế GTGT cũng đồng thời là người chịu thuế GTGT, tất nhiên là đối với các hàng hóa, dịch vụ khác nhau. Ví dụ, cơ sở sản xuất kinh doanh mua hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT để tiêu dùng chứ không sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó để sản xuất, kinh doanh thì cơ sở sản xuất kinh doanh là người chịu thuế GTGT.

Còn đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, bán ra thì cơ sở kinh doanh lại là đối tượng nộp thuế. Sự khác biệt thân phận pháp lý ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của mỗi đối tượng, như trong vai trò là người tiêu dùng (người chịu thuế), cơ sở kinh doanh không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ mua sử dụng cho mục đích tiêu dùng. Thứ hai, thuế GTGT chỉ đánh vào giá trị gia tăng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Hoàn thiện pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình hiện tại của pháp luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện và hoàn thiện hệ thống này. Tác giả phân tích những thách thức mà hệ thống thuế GTGT đang đối mặt, từ đó đưa ra những khuyến nghị cụ thể để nâng cao hiệu quả quản lý thuế, giảm thiểu gian lận thuế và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp.

Đối với độc giả, tài liệu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về các vấn đề pháp lý liên quan đến thuế GTGT mà còn cung cấp những giải pháp thực tiễn có thể áp dụng. Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý thuế, bạn có thể tham khảo tài liệu Quản lý thu thuế giá trị gia tăng tại chi cục thuế khu vực sóc sơn mê linh, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết về thực trạng và giải pháp trong quản lý thuế GTGT tại một khu vực cụ thể. Những thông tin này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực thuế GTGT tại Việt Nam.