Chương I: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CƠ BẢN PHÁP LUẬT VE QUAN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VẺ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.1Khái niệm về ngân sách và pháp luật về quan lý ngân sách nhà nước 1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước Trải qua các thời kỳ xã hội, quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước luôn được coi là nguồn tài chính cơ bản phục vụ hoạt động cho xã hội, đảm bảo lợi ích của giai cấp thống trị xã hội. Sự phát triển của xã hội kéo theo sự ra đời, phát triển và hoàn thiện của ngân sách nhà nước, đặc biệt là thời kỳ tư bản chủ nghĩa. Trong những năm tồn tại của nhà nước chiếm hữu nô lệ và nhà nước phong kiến, chế độ sưu cao thuế nặng nhằm tăng thêm ngân quỹ của chính quyền: "chế đột tô thuế nặng nề phiền phức, với nhiều thứ thuế khác nhau và lệ thu thuế ở các địa phương cũng không thống nhất. Bộ máy thu thuế cồng kénh, bọn quan lại mặc sức tham ô hối lộ".
Nhà sử học Lê Quý Đôn (thế kỷ XVIII) đã viết về thuế đàng trong: "Mỗi năm có hàng trăm thứ thuế, trưng thu phiền phức gian lận, nhân dân khốn khổ, một cổ hai tròng"! đã nhen nhóm trong lòng dân chúng khát vọng về chế độ tài chính dân chủ. Giai cấp tư sản ra đời và đấu tranh để có một nền tài chính, kinh tế thông thoáng, tạo thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh, họ đấu tranh để có một chế độ thuế khóa theo luật định. Sự dau tranh của giai cấp tư sản ở hậu kỳ nhà nước phong kiến dẫn tới sự thừa nhận về mặt nhà nước các chuẩn mực tài chính, và đánh dấu sự ra đời của ngân sách nhà nước trong lịch sử. Nghị viện đầu tiên ra đời trong lịch sử với vai trò là một nhánh quyền lực trong bộ máy nhà nước đã đánh dấu sự thắng lợi của người đại diện nhân dân trong cuộc đấu tranh với nhà vua vì mục đích hình thành một nền tài chính dân chủ tiến bộ (quyền biểu quyết các khoản thu thuế và biểu quyết các khoản chỉ tiêu) được xem là một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự ra đời của ngân sách nhà nước trong lịch sử.
- Thuật ngữ ngân sách nhà nước được sử dụng rộng rãi trong các diễn đàn khoa học và đời sống thực tiễn nhằm đề cao ý thức chính trị của nhân dân trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước và nâng cao trách nhiệm trong quản lý sử dụng quỹ ngân sách nhà nước phục vụ cho hoạt động của nhà nước và lợi ích công cộng của xã hội. Thuật ngữ ngân sách nhà nước có thể được nghiên cứu, định nghĩa ở nhiều phương diện cả về khoa học, kinh tế, thực tiễn và pháp lý. Nhà kinh tế Philip E Taylor định nghĩa rằng: "Ngân sách là chương trình tài chính chủ yếu của Chính phủ, Tài liệu này tập trung các dự liệu thu và chi trong khoảng thời gian của tài khóa, bao hàm các chương trình hoat động phải thực hiện và các phương thức tài trợ các hoạt động ấy". Như ' Quản ly NSNN qua các thời kỳ lịch sử -NXB Tài chính 1992.
? Tai chánh công Philip E.Talor, Trung tâm nghiên cứu Việt Nam xbản 1963 | vậy, ngân sách nhà nước là một bản kế hoạch về thu chỉ tài chính của một đất nước, được soạn thảo, đệ trình, thông qua theo một quy trình nhất định theo pháp luật, có giá trị pháp lý như một văn bản luật, buộc các chủ thể phải tuân thủ việc thực hiện. Về phương diện pháp lý, định nghĩa ngân sách nhà nước là một khái niệm pháp lý quan trọng, được thể hiện trong một đạo luật do Quốc hội (Nghị viện) cơ quan lập pháp của nhà nước ban hành để các cơ quan hành pháp thực hiện. Ngân sách nhà nước là một đạo luật bởi lẽ ngân sách nhà nước do co quan lập pháp quyết định và phê chuẩn theo một trình tự làm luật và có hiệu lực như luật mặc dù nó có những thủ tục đặc biệt khác với trình tự lập pháp thông thường. Khái niệm Ngân sách nhà nước được quy định trong Luật ngân sách nhà nước còn hàm chứa nhiều nội dung chính trị, pháp lý quan trọng, thể hiện mối quan hệ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp của bộ máy nhà nước trong việc quyết định lập, chấp hành, quyết toán, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán ngân sách nhà nước (quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước), phân cấp ngân sách giữa cơ quan trung ương va cơ quan chính quyền địa phương.
Đề thực thi đạo luật đó, cơ quan nhà nước có thâm quyền Ở Các cấp còn ban hành nhiều văn bản để triển khai thực hiện như các Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư. Theo pháp luật thực định (Điều 1, Luật ngân sách nhà nước năm 2002 được Quốc hội thông qua ngày 16/12/2002): "Ngán sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi cua nhà nước trong dự todn đã được cơ quan có thẩm quyên của nhà nước quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước". Như vậy, ngân sách nhà nước là bảng dự toán thu và chi tiền tệ của quốc gia phải được cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất đại diện cho toàn thể nhân dân, thay mặt nhân dân quyết quyết định. Quốc hội còn là cơ quan thực hiện quyền giám sát Chính phủ, Ủy ban nhân dân và các cơ quan trực thuộc trong việc điều hành và quản lý ngân sách.
Dự toán ngân sách nhà nước được lập trong 1 năm, có hiệu lực trong vòng 12 tháng, bắt đầu từ 1/1 đến hết 31/12 hàng năm theo thông lệ của các nước. Tuy nhiên, thời điểm bắt đầu và kết thúc năm ngân sách ở các nước có khác nhau, chẳng hạn năm tài chính của Cộng hòa Liên bang Đức bắt đầu vào 30/3 và kết thúc vào 1/4 năm sau, hay như nước Mỹ, giữa các Bang cũng có quy định về thời điểm bắt đầu và kết thúc năm ngân sách khác nhau.2 Khái niệm pháp luật về quản lý NSNN: Ngân sách nhà nước là khâu trung tâm trong hệ thống tài chính của nhà nước. Trong hệ thống pháp luật về tài chính của quốc gia, pháp luật về ngân sách có vai trò quan trọng, giữ vai trò chủ đạo, điêu chỉnh những nhóm quan hệ xã hội trong hoạt động ngân sách của Nhà nước. "Pháp luật ngân sách nhà nước, bộ phận cầu thành chủ yếu của Luật tài chính là tập hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành, diéu chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong qua trình hình thành, quản ly và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước, các quan hệ xã hội liên quan đến quá trình lập, phê chuẩn, chấp hành và quyết toán ngân sách".
Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước vi vậy, nếu hiểu một cách đầy đủ nhất thì pháp luật về ngân sách nhà nước bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật quy định các khoản thu, chế độ chi ngân sách nhà nước, quy định vê tổ chức điều hành ngân sách, pháp luật về ngân sách bao gồm các bộ phận: + Bộ phận về pháp luật thu ngân sách nhà nước: ở mỗi quốc gia hoạt động thu ngân sách là hiện tượng mang tính tất yếu. Thu ngân sách nhà nước là hoạt động của nhà nước và gắn liền với vai trò của nhà nước trong xã hội. Nhà nước với tư cách là chủ thé của quyền lực chính trị đặt ra pháp luật quy định hình thức và nội dung các khoản thu ngân sách nhà nước nhằm tập trung một bộ phận của cải xã hội để lập quỹ ngân sách nhà nước. Tư cách chủ thé quyền lực nhà nước trong hoạt động thu ngân sách nha nước là dấu hiệu có tính đặc thù để phân biệt hoạt động thu ngân sách nhà nước với hoạt động thu chi tài chính của các chủ thể khác trong xã hội.
"Thu ngân sách nhà nước là hoạt động của nhà nước nhằm tập trung một bộ phận của cải xã hội dưới hình thức giá trị theo những hình thức và biện pháp cụ thể phù hợp để tạo lập quỹ ngân sách nhà nước". Xuất phát từ vai trò quan trọng của hoạt động thu ngân sách nhà nước đối với nhà nước và sự tác động của nó đối với đời sông xã hội đòi hỏi nhà nước phải sử dụng pháp luật để điều chỉnh hoạt động này. Thông qua quan hệ thu ngân sách nhà nước, nhà nước tạo lập quỹ ngân sách mà bộ phận hợp thành chủ yếu là các khoản thu mang tinh bắt buộc. Do do dé bắt buộc các chủ thể có nghĩa vụ phải thực hiện, nhà nước phải dùng pháp luật quy định hình thức, nội dung, biện pháp thực hiện các khoản thu, quyên nghĩa vụ của chủ thể trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính vào quỹ ngân sách nhà nước.
Các khoản thu được tập trung vào ngân sách nhà nước hình thành từ nhiều lĩnh vực, thành phần kinh tế, đối tượng thực hiện là các chủ thể khác nhau trong xã hội có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước. Do vậy, hoạt động thu ngân sách là rất phức tạp, đa dạng. Để thực hiện thu ngân sách nhà nước, nhà nước phải thiết lập một hệ thống các cơ quan có chức năng thực hiện nghĩa vụ thu ngân sách theo những chuẩn mực, quy định do pháp luật quy định. Từ việc nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong quá trình thực hiện thu ngân sách nhà nước đã hình thành nên hệ thống các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực thu ngân sách.
Các quy phạm pháp luật này thực chất là một bộ phận pháp luật về thu ngân sách nhà nước. Quy phạm pháp luật về thu ngân sách nhà nước có thể được phân nhóm thành các bộ phận (i) pháp luật về thu ngân sách từ thuế - một bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất của pháp luật về thu ngân sách nhà nước. Pháp luật thu ngân sách nhà nước từ thuế được thể hiện thông qua các đạo luật về thuế được Quốc hội thông qua như Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật thuế giá trị gia ? Giáo trình Luật Tài chính Việt Nam - Trường DH Luật HN -1997. Zi tăng, Luật thuế, sử dụng đất, luật thuế thu nhập cá nhân.