Chương 1 của Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Hiện tại ở Việt Nam đang tồn tại 7 loại hình doanh nghiệp: doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã và hộ kinh doanh cá thể. Trong đó, doanh nghiệp Nhà nước hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước. Luật Doanh nghiệp 2005 quy định 4 năm là thời hạn để các doanh nghiệp nhà nước (hiện đang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước) chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần tổ chức hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
Việc xác định thời hạn 4 năm xuất phát từ yêu cầu đẩy nhanh quá trình sắp xếp, tổ chức lại và nâng cao hiệu quả quản lý doanh nghiệp nhà nước; yêu cầu tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế; đồng thời đã tính đến các điều kiện, các vấn đề cần xử lý trong quá trình chuyển đổi. Doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phân, công ty hợp danh hoạt động theo Luật doanh nghiệp; hợp tác xã hoạt động theo luật HTX; hộ kinh doanh cá thể hoạt động theo nghị định 02-2000-CP. 7 loại hình doanh nghiệp trên đây hiện đang hoạt động trong tất cả các thành phần kinh tế. Trong cơ chế kinh tế cũ, xu hướng đề cao kinh tế nhà nước, coi nhẹ kinh tế tập thể và kỳ thị đối với kinh tế tư nhân là phổ biến cả về luật pháp cũng như về chính sách và dư luận xã hội.
Xu hướng đó đương nhiên là có tác động 11 tới môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Chuyển sang kinh tế thị trường, Nhà nước đã thừa nhận quyền bình đẳng về pháp luật của tất cả các loại hình doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế. Vì vậy các chính sách kinh tế mà Nhà nước ban hanh cũng cần được đổi mới theo hướng tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng cho các doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được hiểu là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Doanh nghiệp bất động sản. Doanh nghiệp bất động sản trong phạm vi luận văn được giới hạn bao gồm các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh liên qua đến lĩnh vực bất động sản, bao gồm một trong các nội dung sau: - Đầu tư tạo lập nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua; - Mua nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua; - Thuê nhà, công trình xây dựng để cho thuê lại; - Đầu tư cải tạo đất và đầu tư các công trình hạ tầng trên đất thuê để cho thuê đất đã có hạ tầng; - Lập dự án, đầu tư xây dựng các dự án nhà, khách sạn, văn phòng, trung tâm thương mại, siêu thị, khu đô thị mới, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao; quản lý, khai thác và kinh doanh các dịch vụ trong khu chung cư, khu đô thị, khu dân cư tập trung, bãi đỗ xe, khách sạn du lịch. - Đầu tư kinh doanh hạ tầng Khu đô thị, Khu công nghiệp và các dịch vụ khác. - Dịch vụ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đầu tư công trình hạ tầng để chuyển nhượng, cho thuê, thuê quyền sử dụng đất đã có hạ tầng để thuê lại; - Dịch vụ môi giới bất động sản.
- Dịch vụ định giá bất động sản. - Dịch vụ sàn giao dịch bất động sản. 12 - Dịch vụ tư vấn bất động sản; - Dịch vụ đấu giá bất động sản; - Dịch vụ quảng cáo bất động sản; - Dịch vụ quản lý bất động sản; 1. Những vấn đề cơ bản về môi trường kinh doanh của doanh nghiệp bất động sản.
Quan niệm về môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. Môi trường kinh doanh là một phạm trù rất phức tạp và có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Trong quá trình hoạt động các doanh nghiệp đều chịu sự tác động của môi trường kinh doanh. Môi trường kinh doanh có thể hiểu là một hệ thống các mối quan hệ bao trùm lên hoạt động kinh doanh.
Nó bao gồm tổng thể các nhân tố bên trong và bên ngoài, mang tính khách quan và chủ quan, nó vận động và tương tác lẫn nhau, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kinh doanh cũng như sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Sự tác động này có thể thuận lợi hoặc khó khăn cho hoạt động kinh doanh. Các nhân tố cấu thành môi trường kinh doanh vừa tự vận động lại vừa tác động qua lại với nhau trở thành ngoại lực chính cho sự vận động biến đổi của môi trường kinh doanh. Các nhân tố rất đa dạng, phong phú.
Trong quá trình hoạt động các doanh nghiệp không chỉ thụ động chịu sự tác động từ môi trường kinh doanh mà chính nó lại sản sinh ra các tác nhân làm thay đổi đến môi trường kinh doanh. Môi trường kinh doanh là tổng thể các yếu tố cấu thành, bao gồm yếu tố kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hoá, địa lý, lịch sử, cạnh tranh, tài chính. chúng tác động và chi phối mạnh mẽ đến những hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải tự điều chỉnh các mục đích, các hình thức hoạt động, các hoạt động chức năng của mình cho thích ứng nhằm nắm bắt được cơ hội kinh doanh và đạt hiệu quả cao trong kinh doanh. Môi trường kinh doanh với tư cách là một chỉnh thể thống nhất, trong đó các yếu tố cấu thành là những bộ phận không tách rời, giữa chúng có những tác động qua lại lẫn nhau.
Môi trường kinh doanh là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài nước có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh 13 nghiệp, chi phối đến kết quả kinh doanh của nó, tức là chi phối đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong kinh doanh. Chính vì vậy, khi tiến hành hoạt động kinh doanh doanh nghiệp cần phải có những kiến thức cơ bản về địa lý, lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hoá, pháp luật. Từ đó, tuỳ thuộc vào môi trường kinh doanh cụ thể doanh nghiệp tự điều chỉnh các hoạt động chức năng, biện pháp và hình thức hoạt động của chính mình sao cho phù hợp với môi trường ở đó doanh nghiệp đang hoạt động để tăng cơ hội, giảm thách thức, đạt hiệu quả cao trong kinh doanh. Khi xem xét, phân tích môi trường kinh doanh các nhà kinh doanh cần phải thống nhất một số quan điểm sau: Thứ nhất, môi trường kinh doanh không phải là cố định mà luôn biến đổi.
Vì vậy, khi phân tích đánh giá môi trường kinh doanh đòi hỏi phải đứng trên quan điểm động, phải tìm hiểu và nắm bắt những thông tin thường xuyên và kịp thời để có những hoạt động thích ứng, phù hợp. Một nhà kinh doanh cần phải dự đoán được những sự thay đổi của môi trường kinh doanh trong tương lai. Thứ hai, môi trường kinh doanh là sự đan xen của các yếu tố, các yếu tố có tác động ảnh hưởng lẫn nhau. Phân tích đánh giá môi trường phải xem xét đánh giá một cách tổng thể trong mối tương quan giữa các yếu tố cấu thành môi trường.
Thứ ba, ngày nay các doanh nghiệp không chỉ kinh doanh trong nước hoặc một số nước mà kinh doanh ở rất nhiều nước. Và cùng với xu thế hội nhập hoá thì các doanh nghiệp cần phải đánh giá phân tích môi trường kinh doanh cả môi trường trong nước và môi trường kinh doanh quốc tế nói chung. Khác với hoạt động kinh doanh trong nước, hoạt động kinh doanh quốc tế buộc các nhà quản lý, các doanh nghiệp phải làm việc trong môi trường kinh doanh mới và phức tạp hơn. Sự khác nhau giữa các nước về địa lý, lịch sử, văn hoá, kinh tế, chính trị, luật pháp là những nhân tố chủ yếu làm cho môi trường kinh doanh giữa các nước khác nhau.
Nghiên cứu, phân tích môi trường kinh doanh là điều kiện cần thiết, song bởi tính đồ sộ của nó nên người ta đã nghiên cứu các nhóm nhân tố trong một chừng mực coi chúng như là các yếu tố trong môi trường tổng thể. Việc phân tích môi trường kinh doanh là một công việc hết sức khó khăn và phức tạp nên đòi hỏi người phân tích phải có sự nhìn nhận trên các góc độ khác nhau. 14 Nhìn nhận một cách tổng thể về môi trường kinh doanh là cơ sở để doanh nghiệp phân tích đồng bộ các tác nhân ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh để từ đó khai thác triệt để các lợi thế đồng thời ngăn ngừa những hạn chế có thể xảy ra. Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp suy cho cùng là hoạt động trên một miền kinh doanh nhất định, cho nên việc nghiên cứu, phân tích môi trường là một căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xác định cho mình miền kinh doanh phù hợp.
Do giới hạn về miền kinh doanh nên từ môi trường tổng thể, nó trợ giúp cho doanh nghiệp biết sẽ phải chịu các tác động chủ yếu nào, các mức độ hoạt động của chúng. Kết quả nghiên cứu, phân tích môi trường kinh doanh là một căn cứ cực kỳ quan trọng cho việc xác định các chiến lược và chính sách dài hạn. Môi trường kinh doanh bao gồm nhiều bộ phận và chúng có thể thay đổi, chuyển hoá nhưng có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Những yếu tố của môi trường có thể có những điểm trùng nhau, những sự phát triển của nó có sự đan xen với nhau và hỗ trợ qua lại.
Môi trường kinh doanh được xem xét trong những giai đoạn nhất định và thường gắn chặt với chiến lược kinh doanh của công ty. Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm môi trường vĩ mô và môi trường ngành. Việc nghiên cứu phân tích các nhân tố trong môi trường kinh doanh giúp doanh nghiệp nhận thức một cách rõ ràng về bản thân doanh nghiệp mình. Việc phân tích đó còn giúp các doanh nghiệp nhận thức được những thời cơ, những thách thức, nắm được các xu hướng vận động của chúng, nắm bắt được tình hình của các đối thủ cạnh tranh.
Qua phân tích về môi trường kinh doanh có thể rút ra những bài học, cách thức, hướng đi phù hợp với thực trạng của doanh nghiệp mình.