Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ và rủi ro hoạt động trong ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng TMCP Quân đội nhằm đối phó với rủi ro hoạt động. Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng TMCP Quân đội nhằm đối phó với rủi ro hoạt động. 3 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ RỦI RO HOẠT ĐỘNG TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1.1 Báo cáo COSO 1992 COSO là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận về báo cáo tài chính (National Commission on Financial Reporting, hay còn được gọi là Treadway Commission).
Ủy ban này bao gồm đại diện của Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ (IIA), Hiệp hội Quản trị viên tài chính (FEI), Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA), Hiệp hội kế toán viên quản trị (IMA). Sự ra đời của COSO hình thành từ sự gian lận tại các công ty ở Mỹ cũng như sự quan tâm của xã hội đến KSNB đã ra đời nhiều ủy ban để khảo sát và tìm cách khắc phục, trong đó có Ủy ban quốc gia về chống gian lận báo cáo tài chính, gọi tắt là Treadway Commission, ra đời vào năm 1985. COSO được thành lập nhằm nghiên cứu về kiểm soát nội bộ, cụ thể là: - Thống nhất định nghĩa về KSNB để phục vụ cho nhu cầu của các đối tượng khác nhau. - Công bố đầy đủ một hệ thống tiêu chuẩn để giúp các đơn vị có thể đánh giá hệ thống kiểm soát của họ và tìm giải pháp để hoàn thiện.
Báo cáo của COSO được công bố dưới tiêu đề: Kiểm soát nội bộ - Khuôn khổ hợp nhất (Internal Control – Integrated Framework). Báo cáo COSO 1992 là báo cáo cung cấp một hệ thống lý luận đầy đủ nhất về KSNB cho đến thời điểm này, kế thừa và phát triển các nghiên cứu trước đó về KSNB. Theo báo cáo COSO 1992: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu dưới đây. - Báo cáo tài chính đáng tin cậy.
4 - Các luật lệ và quy định được tuân thủ. - Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả.” Trong định nghĩa trên, bốn nội dung cơ bản là quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu. Chúng được hiểu như sau: - Kiểm soát nội bộ là một quá trình. Kiểm soát nội bộ bao gồm một chuỗi hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất.
Quá trình kiểm soát là phương tiện để giúp cho đơn vị đạt được các mục tiêu của mình. - Kiểm soát nội bộ đƣợc thiết kế và vận hành bởi con ngƣời. Cần hiểu rằng kiểm soát nội bộ không chỉ đơn thuần là những chính sách, thủ tục biểu mẫu… mà phải bao gồm cả những con người trong tổ chức như Hội đồng quản trị, Ban Giám Đốc, các nhân viên khác… chính con người định ra mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát ở mọi nơi và vận hành chúng. - Kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý, chứ không đảm bảo tuyệt đối, là các mục tiêu sẽ được thực hiện.
Vì khi vận hành hệ thống kiểm soát, những yếu kém có thể xẩy ra do các sai lầm của con người nên dẫn đến không thực hiện được các mục tiêu. Kiểm soát nội bộ có thể ngăn chặn và phát hiện những sai phạm nhưng không thể đảm bảo là chúng không bao giờ xảy ra. Hơn nữa, một nguyên tắc cơ bản trong việc đưa ra quyết định quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không thể vuợt quá lợi ích được mong đợi từ quá trình kiểm soát đó. Do đó, tuy người quản lý có thể nhận thức đầy đủ về các rủi ro, thế nhưng nếu chi phí cho quá trình kiểm soát quá cao thì họ vẫn không áp dụng các thủ tục để kiểm soát rủi ro.
Các mục tiêu của kiểm soát nội bộ Đối với báo cáo tài chính, kiểm soát nội bộ phải bảo đảm về tính trung thực và đáng tin cậy, bởi vì chính người quản lý đơn vị phải có trách nhiệm lập báo cáo tài chính phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành. 5 Đối với tính tuân thủ, kiểm soát nội bộ trước hết phải bảo đảm hợp lý việc chấp hành luật pháp và các quy định. Điều này xuất phát từ trách nhiệm của người quản lý đối với những hành vi không tuân thủ trong đơn vị. Bên cạnh đó, kiểm soát nội bộ còn phải hướng mọi thành viên trong đơn vị vào việc tuân thủ các chính sách, quy định nội bộ của đơn vị, qua đó bảo đảm đạt được những mục tiêu của đơn vị.
Đối với mục tiêu sự hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động, kiểm soát nội bộ giúp đơn vị bảo vệ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, bảo mật thông tin, nâng cao uy tín, mở rộng thị phần, thực hiện các chiến lược kinh doanh của đơn vị… Như vậy, các mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ rất rộng, chúng bao trùm lên mọi mặt hoạt động và có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của đơn vị. Các bộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát nội bộ Theo báo cáo COSO 1992 mặc dù có sự khác biệt đáng kể về tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ giữa các đơn vị vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô, tính chất hoạt động, mục tiêu… của từng nơi, thế nhưng bất kỳ hệ thống kiểm soát nội bộ nào cũng phải bao gồm những bộ phận cơ bản. Theo quan điểm phổ biến hiện nay1, kiểm soát nội bộ bao gồm các bộ phận sau: Môi trường kiểm soát. Đánh giá rủi ro.
Hoạt động kiểm soát. Thông tin và truyền thông. Các nội dung chủ yếu và các nhân tố cấu thành các bộ phận hợp thành hệ thống KSNB được thể hiện ở bảng dưới đây: 1 Theo Báo cáo của COSO 6 Bảng 1.1 Các bộ phận hợp thành hệ thống Kiểm soát nội bộ Bộ phận Nội dung chủ yếu Các nhân tố Tạo ra sắc thái chung của một tổ - Tính chính trực và giá trị đạo đức. chức, chi phối đến ý thức kiểm - Đảm bảo về năng lực.
soát của mọi người trong tổ chức, là nền tảng cho mọi bộ - Hội đồng quản trị và Ủy ban kiểm phận khác của kiểm soát nội bộ. Môi - Triết lý quản lý và phong cách điều trường hành. kiểm soát - Cơ cấu tổ chức. - Phân định quyền hạn và trách nhiệm.
- Chính sách về nhân sự. Đơn vị phải nhận biết và đối - Xác định mục tiêu của đơn vị. phó với các rủi ro bằng cách - Nhận dạng rủi ro. Đánh giá thiết lập mục tiêu của tổ chức và rủi ro hình thành cơ chế để nhận dạng, - Phân tích và đánh giá rủi ro.
phân tích và đánh giá các rủi ro có liên quan. Các chính sách và các thủ tục để - Phân chia trách nhiệm đầy đủ. giúp đảm bảo là những chỉ thị - Kiểm soát quá trình xử lý thông Hoạt động của nhà quản lý được thực hiện tin. kiểm soát và có các hành động cần thiết đối với các rủi ro nhằm đạt được - Kiểm soát vật chất.
mục tiêu của đơn vị. 7 - Kiểm tra độc lập việc thực hiện. - Phân tích rà soát hay soát xét lại việc thực hiện. Hệ thống thông tin được thiết - Hệ thống thông tin, bao gồm cả hệ lập để mọi thành viên trong đơn thống thông tin kế toán phải đảm Thông tin vị có khả năng nắm bắt và trao bảo chất lượng thông tin.
và truyền đổi thông tin cần thiết cho việc thông - Truyền thông bảo đảm các kênh điều hành, quản trị và kiểm soát thông tin bên trong và bên ngoài đều các hoạt động. hoạt động hữu hiệu. Toàn bộ quy trình hoạt động - Giám sát thường xuyên: thông qua phải được giám sát và điều việc thu thập thông tin trong nội bộ chỉnh cần thiết. Hệ thống phải và bên ngoài; đối chiếu số liệu thực có khả năng phản ứng năng tế và sổ sách,.
hoặc xem xét các báo động, được thay đổi theo yêu cáo hoạt động để phát hiện các biến Giám sát cầu của môi trường bên trong và động bất thường. - Giám sát định kỳ: thực hiện thông qua các cuộc kiểm tra định kỳ của đơn vị kiểm toán độc lập hoặc đơn vị kiểm toán nội bộ. Các hạn chế tiềm tàng của hệ thống kiểm soát nội bộ Ở bất kỳ đơn vị nào, dù đã được đầu tư rất nhiều trong thiết kế và vận hành hệ thống, thế nhưng một hệ thống kiểm soát nội bộ vẫn không thể hoàn toàn hữu hiệu. Bởi lẽ ngay cả khi có thể xây dựng hệ thống hoàn hảo về cấu trúc, thì hiệu quả thật sự của nó vẫn tùy thuộc vào nhân tố chủ yếu là con người, tức là phụ thuộc vào năng lực làm việc và tính đáng tin cậy của lực lượng nhân sự.
Nói cách khác, hệ 8 thống kiểm soát nội bộ chỉ có thể giúp hạn chế tối đa những sai phạm mà thôi, vì nó có các hạn chế tiềm tàng xuất phát từ những nguyên nhân sau đây: - Những hạn chế xuất phát từ bản thân con người như sự vô ý, bất cẩn, đãng trí, đánh giá hay ước lượng sai, hiểu sai chỉ dẫn của cấp trên hoặc báo cáo của cấp dưới… - Khả năng đánh lừa, lẩn tránh của nhân viên thông qua sự thông đồng với nhau hay với các bộ phận bên ngoài đơn vị. - Hoạt động kiểm soát thường chỉ nhắm vào các nghiệp vụ thường xuyên phát sinh mà ít chú ý đến những nghiệp vụ không thường xuyên, do đó những sai phạm trong các nghiệp vụ này thường hay bị bỏ qua. - Yêu cầu thường xuyên và trên hết của người quản lý là chi phí bỏ ra cho hoạt động kiểm soát phải nhỏ hơn giá trị thiệt hại ước tính do sai sót hay gian lận gây ra. - Luôn có khả năng là các cá nhân có trách nhiệm kiểm soát đã lạm dụng quyền hạn của mình nhằm phục vụ cho mưu đồ riêng.