CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN DT VÀ KIỂM SOÁT DT TẠI DOANH NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH KIỂM TOÁN CỦA CÔNG TY KIỂM TOÁN 1. HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành đề cập đến khái niệm về HT KSNB như sau: HT KSNB là các quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm đảm bảo cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập BCTC trung thực hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị. Cơ cấu thành phần HT KSNB bao gồm môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát.
* Môi trường kiểm soát : Môi trường kiểm soát là những yếu tố của tổ chức ảnh hưởng đến các hoạt động của HT KSNB và là các yếu tố tạo ra một môi trường trong đó toàn bộ thành viên của tổ chức có nhận thức được tầm quan trọng của HT KSNB hay không. Những yếu tố của môi trường kiểm soát thông thường bao gồm: - Đặc thù về quản lý: Là những quan điểm triết lý và phong cách điều hành của nhà quản lý cấp cao. - Cơ cấu tổ chức: Phản ánh việc phân chia quyền lực, trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi người trong tổ chức cũng như mối quan hệ hợp tác, phối hợp, kiểm soát và chia sẻ thông tin lẫn nhau giữa những người khác nhau trong cùng một tổ chức. - Chính sách nhân sự: Con người là chủ thể trong mọi hoạt động của tổ chức, là yếu tố quan trọng nhất trong bất cứ hoạt động nào kể cả hoạt động kiểm soát.
SV : Nguyễn Thị Hồng 7 Lớp K44/21.16 Luan van Giáo viên hướng dẫn: Ths. Đỗ Thị Lan Hương Luận Văn Cuối Khóa - Công tác kế hoạch: nếu được xây dựng chắc chắn, có nề nếp và ổn định sẽ là điều kiện quan trọng cho việc kiểm soát nội bộ tốt. - Bộ phận kiểm toán nội bộ: Có chức năng giám sát, kiểm tra và đánh giá một cách thường xuyên về toàn bộ hoạt động của đơn vị, trong đó có cả HT KSNB. - Các nhân tố bên ngoài: như ảnh hưởng của các cơ quan chức năng của nhà nước, các chủ nợ và các trách nhiệm pháp lý… * Hệ thống kế toán: Hệ thống kế toán ở đơn vị là hệ thống dùng để nhận biết, thu thập, phân loại, ghi sổ, xử lý, tổng hợp và lập báo cáo về các thông tin kinh tế, tài chính ở đơn vị.
Là mắt xích quan trọng trong HT KSNB, hệ thống kế toán có hiệu quả góp phần đảm bảo thỏa mãn tất cả các mục tiêu kiểm soát nội bộ chi tiết: các nghiệp vụ kinh tế ghi sổ phải có căn cứ hợp lý, phải được phê chuẩn, được ghi sổ đầy đủ, phân loại đúng, kịp thời đúng kỳ và tổng hợp chính xác. - Chứng từ và sổ sách đầy đủ: Những nguyên tắc thích hợp nhất đối với chứng từ: + Chứng từ phải được đánh số liên tiếp. + Chứng từ phải được lập vào lúc nghiệp vụ kinh tế phát sinh hoặc ngay sau đó càng sớm càng tốt. + Chứng từ phải đơn giản để đảm bảo là chúng rõ ràng dễ hiểu.
+ Chứng từ phải được thiết kế cho nhiều công dụng và thể hiện tối đa mức độ kiểm soát nội bộ. - Hệ thống TK: Là cầu nối liên quan chặt chẽ giữa chứng từ kế toán và sổ kế toán. Trong hệ thống kiểm soát, hệ thống TK có tác dụng kiểm soát luồng đi của các thông tin theo các nội dung đã được phân loại. Một hệ thống TK được thiết lập đúng đắn sẽ giúp cho số liệu các chỉ tiêu trên BCTC phản ánh đúng quy mô và bản chất của chúng.
- Sổ kế toán: Có nhiều hình thức sổ kế toán và tương ứng với mỗi hình thức có một hệ thống sổ kế toán cụ thể với trình tự ghi sổ nhất định. Đơn vị phải cân nhắc lựa chọn hình thức sổ kế toán phù hợp và tổ chức các sổ kế toán đầy đủ, hợp lý theo yêu cầu kế toán của mình. SV : Nguyễn Thị Hồng 8 Lớp K44/21.16 Luan van Giáo viên hướng dẫn: Ths. Đỗ Thị Lan Hương Luận Văn Cuối Khóa - Báo cáo kế toán: Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, sau quá trình ghi nhận, phân loại, ghi chép,…cuối cùng phải được tổng hợp theo những chỉ tiêu tài chính và được trình bày vào báo cáo kế toán phù hợp, theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định.
Hệ thống báo cáo kế toán nói chung bao gồm các BCTC và các báo cáo quản trị. * Các nguyên tắc và các thủ tục kiểm soát - Các nguyên tắc kiểm soát: Phân công, phân nhiệm; Bất kiêm nhiệm; Phê chuẩn, ủy quyền. - Các thủ tục kiểm soát: Kiểm soát trực tiếp và Kiểm soát tổng quát. Kiểm soát trực tiếp là các thủ tục, quy chế, quá trình kiểm soát được thiết lập nhằm trực tiếp đáp ứng các mục tiêu chi tiết của kiểm soát.
Kiểm soát tổng quát là sự kiểm soát tổng thể đối với nhiều hệ thống, nhiều công việc khác nhau. Vai trò của HT KSNB trong DN Thiết lập một HT KSNB chính là xác lập một cơ chế giám sát mà ở đó bạn không quản lý bằng lòng tin, mà bằng những quy định rõ ràng nhằm: - Giảm bớt nguy cơ rủi ro tiềm ẩn trong kinh doanh (sai sót vô tình gây thiệt hại, các rủi ro làm chậm kế hoạch, tăng giá thành, giảm chất lượng sản phẩm.) - Bảo vệ tài sản khỏi bị hư hỏng, mất mát, hao hụt, gian lận, lừa gạt, trộm cắp… - Đảm bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và BCTC, - Đảm bảo mọi thành viên tuân thủ nội quy của công ty cũng như các quy định của luật pháp, - Đảm bảo sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt được mục tiêu đặt ra, - Bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, cổ đông và gây dựng lòng tin đối với họ. TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN DT TRONG DN 1. Khái niệm về DT và các khoản giảm trừ DT 1.
Khái niệm, phân loại DT SV : Nguyễn Thị Hồng 9 Lớp K44/21.16 Luan van Giáo viên hướng dẫn: Ths. Đỗ Thị Lan Hương Luận Văn Cuối Khóa DT là tổng lợi ích kinh tế DN thu được trong kỳ hạch toán, phát sinh từ hoạt động SXKD thông thường của DN góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. DT trong DN bao gồm tổng giá trị các lợi ích kinh tế đã thu được hoặc sẽ thu được như: DTBH, DT cung cấp dịch vụ, DT hoạt động tài chính. Trong giới hạn đề tài này em chỉ xin đề cập đến DTBH và cung cấp dịch vụ.
DTBH và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu được hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh DT như bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ cho khách hàng gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có). Điều kiện ghi nhận DT Theo chuẩn mực số 14 “DT và thu nhập khác” ban hành và công bố theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. DTBH được ghi nhận khi thoả mãn 5 điều kiện sau: - DN đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hoá cho người mua; - DN không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hoá như người sở hữu hàng hoá hoặc quyền kiểm soát hàng hoá; - DT được xác định tương đối chắc chắn; - DN đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; - Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. DT của giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy.
Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ thì DT được ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng cân đối kế toán của kỳ đó. Kết quả của giao dịch cung cấp dịch vụ được xác định khi thoả mãn tất cả (4) điều kiện sau: - DT được xác định tương đối chắc chắn; - Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó; - Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng cân đối kế toán; - Xác định được chi phí phát sinh và chi phí để hoàn thành giao dịch đó. SV : Nguyễn Thị Hồng 10 Lớp K44/21.16 Luan van Giáo viên hướng dẫn: Ths. Đỗ Thị Lan Hương Luận Văn Cuối Khóa 1.
Xác định DT - DT được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được. - DT phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thoả thuận giữa DN với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại. - Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được ghi nhận ngay thì DT được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận DT theo tỷ lệ lãi suất hiện hành.
Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận DT có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai. - Khi hàng hoá hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hoá hoặc dịch vụ tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch tạo ra DT. - Khi hàng hoá hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hoá hoặc dịch vụ khác không tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra DT. Trường hợp này DT được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hoá hoặc dịch vụ nhận về, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm.
Khi không xác định được giá trị hợp lý của hàng hoá hoặc dịch vụ nhận về thì DT được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hoá hoặc dịch vụ đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm. Các khoản giảm trừ DT - Chiết khấu thương mại (CKTM): Là khoản DN bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn, mua thường xuyên.