CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THU THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC THU THUẾ 1. Khái niệm về thuế và thuế thu nhập doanh nghiệp a. Khái niệm về thuế Thuế là một phạm trù kinh tế tài chính mang tính khách quan, đồng thời là một phạm trù lịch sử, nó ra đời, tồn tại, phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của một nhà nước.
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, Nhà nước xuất hiện khi xã hội có sự phân chia thành giai cấp, để duy trì bộ máy hoạt động của mình như: an ninh, quốc phòng; chi hoạt động của bộ máy nhà nước, chi sự nghiệp giáo dục, y tế; .; Đòi hỏi Nhà nước phải có nguồn tài chính để chi. Nguồn tài chính này có được là do sự đóng góp của mọi thành viên trong xã hội và sự đóng góp này mang tính bắt buộc.Awngghen: “Để duy trì quyền lực công cộng cần phải có sự đóng góp của những người công dân cho Nhà nước đó là thuế má” [9, tr. Tùy thuộc vào bản chất nhà nước và cách thức sử dụng nguồn thu từ thuế mà có nhiều quan điểm khác nhau về thuế. Thuyết khế ước cho rằng: “Thuế là giá trị của những dịch vụ mà mỗi cá nhân có thể hưởng do Chính phủ cấp” [15, tr.
Theo thuyết quyền lực của nhà nước thì nếu thừa nhận chính quyền thì phải thừa nhận việc chính quyền có phương tiện vật chất để hoạt động và nộp thuế trở thành bổn phận của mỗi công dân, tùy theo khả năng của mình. Sự đóng góp đó có tính chất cưỡng bức, không thể dựa vào hảo tâm hay tự nguyện. Theo các thuyết hiện đại về thuế, E. Seligman cho rằng: “Thuế là sự đóng góp cưỡng bức của mỗi người cho chính phủ để trang trải các chi phí vì quyền lợi chung, không căn cứ vào quyền lợi riêng được hưởng”.
Luan van 8 Các quan niệm trên đây tuy cách diễn đạt khác nhau song đều thống nhất những nội dung chính của thuế là: - Thuế là biện pháp động viên của nhà nước mang tính chất bắt buộc đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội, gắn liền với quyền lực chính trị của nhà nước. - Thuế là khoản đóng góp nghĩa vụ, bắt buộc mọi tổ chức và thành viên trong xã hội phải nộp vào ngân sách nhà nước. - Thuế là một bộ phận của cải từ khu vực tư chuyển vào khu vực công nhằm trang trải những chi phí nuôi sống bộ máy nhà nước và trang trải các chi phí công cộng mang lại lợi ích chung cho cộng đồng. - Thuế là một hình thức phân phối thu nhập được nhà nước sử dụng để động viên một phần thu nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội vào ngân sách nhà nước.
Từ những phân tích trên đây, chúng ta có thể nhận thức một cach toàn diện về thuế như sau: “Thuế là một hình thức đóng góp theo nghĩa vụ do luật định đối với các tổ chức kinh tế và mọi công dân, nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Thuế không mang tính chất hoàn trả trực tiếp cho người nộp. Nó được Nhà nước sử dụng như một công cụ kinh tế khách quan nhằm huy động nguồn lực cho Ngân sách Nhà nước, điều chỉnh kinh tế và điều hòa thu nhập”. Khái niệm về thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập hoặc lợi nhuận của các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh (gọi chung là người nộp thuế).
Thuế TNDN xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển của thuế. Hiện nay ở các nước phát triển, thuế TNDN giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo ổn định nguồn thu Ngân sách Nhà nước và thực hiện phân phối thu Luan van 9 nhập. Mức thuế cao hay thấp áp dụng cho các chủ thể thuộc đối tượng nộp TNDN là khác nhau, điều đó phụ thuộc vào quan điểm điều tiết thu nhập và mục tiêu đặt ra trong phân phối thu nhập của từng quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Luật thuế TNDN hiện hành (áp dụng từ 01/01/2009) của Việt Nam định nghĩa khái niệm tổ chức và cá nhân sản xuất – kinh doanh (gọi chung là cơ sở sản xuất – kinh doanh) như sau: Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật đầu tư, Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật chứng khoán, Luật dầu khí, Luật thương mại và các văn bản pháp luật khác dưới các hình thức: Công ty cổ phần; Công ty trách nhiệm hữu hạn; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tư nhân; Doanh nghiệp Nhà nước; Văn phòng Luật sư, Văn phòng công chứng tư; Các bên trong hợp đồng hợp tác kinh doanh; Các bên trong hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí, xí nghiệp liên doanh dầu khí, Công ty điều hành chung.
Các đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập có sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập trong tất cả các lĩnh vực. Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài có cơ sở thường trú hoặc không thường trú tại Việt Nam; Cơ sở thường trú của doanh nghiệp nước ngoài là cơ sở sản xuất, kinh doanh mà thông qua cơ sở này, doanh nghiệp nước ngoài tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mang lại thu nhập, bao gồm: * Chi nhánh, văn phòng điều hành, nhà máy, công xưởng, phương tiện vận tải, hầm mỏ, mỏ dầu, khí hoặc địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên khác tại Việt Nam; * Địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp; Luan van 10 * Cơ sở cung cấp dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tư vấn thông qua người làm công hay một tổ chức, cá nhân khác; * Đại lý cho doanh nghiệp nước ngoài; * Đại diện tại Việt Nam trong trường hợp là đại diện có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài hoặc đại diện không có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài nhưng thường xuyên thực hiện việc giao hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ tại Việt Nam Tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã; Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam; Tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập. Thuế TNDN được xác định căn cứ trên thu nhập tính thuế và thuế suất. Ý nghĩa của thuế thu nhập doanh nghiệp Tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời số thu cho ngân sách nhà nước trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu.
Các chính sách thuế, dù trực tiếp hay gián tiếp đều có tác động đến thu nhập của các tổ chức kinh tế và cá nhân, qua đó tác động đến quá trình phát triển kinh tế cơ sở tạo ra nguồn thu thuế trong tương lai. Tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các tổ chức kinh tế và dân cư. Ý thức chấp hành pháp luật của các tổ chức kinh tế và dân cư sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện những tác động của Nhà nước đến nền kinh tế. Góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế, xã hội.
Số thu từ thuế đã trở thành nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước năm sau cao hơn năm trước, nhất là các năm gần đây và đã góp phần bảo đảm công bằng xã hội, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong cơ chế thị trường. - Thuế là khoản thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước Để có một nền tài chính Quốc gia lành mạnh chủ yếu phải dựa vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, khi Luan van 11 nước ta trở thành nước có thu nhập trung bình thì nguồn thu từ nước ngoài đã giảm nhiều, kinh tế đối ngoại chịu sức ép của quan hệ “mua bán sòng phẳng”, “có vay, có trả”, thuế phải là công cụ quan trọng góp phần tích cực giảm bội chi ngân sách, giảm lạm phát, ổn định kinh tế - xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho việc phát triển đất nước lâu dài. Mười năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 kinh tế tăng trưởng nhanh, đạt tốc độ bình quân 7,26%/năm.
Tổng sản phẩm trong nước năm 2010 so với năm 2000 theo giá thực tế gấp 3,26 lần; thu ngân sách, kim ngạch xuất khẩu gấp 5 lần.000 Năm - 2008 2009 2010 Thu cân đối NSNN 430.170 Thu nội địa 240.1: Kết quả thu ngân sách của nước ta giai đoạn 2008 - 2010 Mặc dù trong những năm qua nền kinh tế nước ta có nhiều khó khăn, thách thức do khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động trực tiếp đến kinh tế trong nước, nhưng Chính phủ đã đề ra những giải pháp cấp bách để ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, nên tình hình kinh tế đã có chuyển biến tích cực, nền kinh tế phục hồi nhanh. - Thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước Luan van 12 Ngoài việc huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước (NSNN), pháp luật thuế còn có vai trò quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế. Ðiều 26 Hiến pháp 1992 ghi nhận: Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách. Là một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt Nam, pháp luật thuế đóng vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước.
Thông qua việc ban hành và thực hiện pháp luật thuế, Nhà nước thể chế hoá và thực hiện chính sách điều tiết đối với nền kinh tế, điều tiết thu nhập và tiêu dùng xã hội. Nhà nước chủ động phát huy vai trò điều tiết đối với nền kinh tế. Vai trò này của pháp luật thuế được thể hiện ở chỗ pháp luật thuế là công cụ tác động đến tư duy đầu tư, hành vi đầu tư của các chủ thể kinh doanh, hành vi tiêu dùng của các thành viên trong xã hội. Dựa vào công cụ thuế, Nhà nước có thể thúc đẩy hoặc hạn chế việc đầu tư, tiêu dùng.
Thuế góp phần khuyến khích khai thác nguyên liệu, vật tư trong nước để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu.