Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG 1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG 1.1 Khái niệm về thẩm định tín dụng Thẩm định tín dụng là một trong những khâu quan trọng nhất trong quy trình tín dụng của Ngân hàng. Sau khi thẩm định mọi phương diện, cán bộ tín dụng sẽ đưa ra ý kiến và trình cấp trên. Quyết định cho vay được thể hiện bằng kết quả của quá trình thẩm định. Thẩm định tín dụng là một quá trình gồm nhiều công đoạn phức tạp, kỹ lưỡng và công phu.
Quá trình này đòi hỏi người thẩm định phải biết kết hợp nhuần nhuyễn các kỹ năng nghiệp vụ, trình độ chuyên môn, kiến thức tổng hợp để đưa ra nhận định, đánh giá đúng đắn từ đó có quyết định cho vay hay không cho vay. Trong điều kiện cho vay vốn hiện nay tại các Ngân hàng thì việc sử dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản bảo đảm (thế chấp, cầm cố) chỉ là nhằm bảo đảm khả năng thu hồi vốn trong trường hợp xấu nhất. Ngân hàng không bao giờ muốn thu hồi vốn thông qua việc xử lý tài sản bảo đảm này. Do đó, một khoản tín dụng có chất lượng cao đòi hỏi phải được hoàn trả bằng nguồn thu nhập sinh ra từ việc sử dụng hiệu quả tài sản đầu tư chứ không phải từ việc phát mại các tài sản Như vậy, có thể định nghĩa TĐTD là việc sử dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích nhằm kiểm tra, đánh giá mức độ tin cậy và rủi ro của một phương án hoặc dự án mà khách hàng đã xuất trình nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tín dụng.2 Các loại tín dụng của Ngân hàng Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định.
Dựa vào các tiêu thức khác nhau mà tín dụng ngân hàng được phân thành các loại sau: Hoàn thiện công tác Thẩm định tín dụng tại Ngân hàng VPBank Luận văn Thạc sỹ khoa học 2 Nguyễn Thị Thuý Dựa vào mục đích sử dụng vốn – Theo tiêu thức này, tín dụng ngân hàng có thể được chia thành các loại sau: - Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh: Là loại tín dụng cung cấp cho doanh nghiệp hoặc cá nhân để thực hiện sản xuất kinh doanh. - Cho vay tiêu dùng cá nhân: Là loại tín dụng mà ngân hàng cung cấp cho cá nhân, hộ gia định để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm… - Cho vay bất động sản: Là việc cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ. - Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc… Dựa vào thời hạn tín dụng – Theo tiêu thức này, tín dụng ngân hàng có thể được chia thành các loại sau: - Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn dưới một năm và thường nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động. - Cho vay Trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm và nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định.
- Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ trên 5 năm và thường nhằm tài trợ đầu tư vào các dự án đầu tư. Dựa vào phương thức cho vay – Theo tiêu thức này, tín dụng ngân hàng có thể được chia thành các loại sau: - Cho vay theo món: Mỗi lần vay vốn, khách hàng và Ngân hàng sẽ thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng - Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là loại cho vay mà Ngân hàng và khách hàng sẽ xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng và duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng: - Cho vay không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của KH Hoàn thiện công tác Thẩm định tín dụng tại Ngân hàng VPBank Luận văn Thạc sỹ khoa học 3 Nguyễn Thị Thuý - Cho vay có bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác.3 Vai trò của công tác thẩm định tín dụng tại Ngân hàng Thẩm định tín dụng giúp cho Ngân hàng và những đối tượng liên quan tới phương án mà khách hàng xuất trình có những quyết định quản lý và quyết định đầu tư phù hợp với lợi ích của họ. Với đặc thù của kinh doanh tín dụng Ngân hàng là kinh doanh chủ yếu dựa vào tiền của người khác, kinh doanh qua tay nên rủi ro trong hoạt động tín dụng cao hơn nhiều so với các doanh nghiệp vì nó vừa phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của chính bản thân Ngân hàng và vừa phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Hậu quả của nó là rất dễ lan truyền trong cả hệ thống Ngân hàng và gây hậu quả nghiêm trọng về mọi mặt kinh tế xã hội. Chính vì vậy mà công tác thẩm định tín dụng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với bản thân Ngân hàng và đối với các đối tượng khác có liên quan, cụ thể như sau: Đối với Ngân hàng: Ngân hàng là bên giao vốn cho khách hàng quản lý. Họ chính là một trong những chủ nhân của các phương án/dự án mà Khách hàng thực hiện. Cho nên, Ngân hàng luôn quan tâm trực tiếp tới giá trị, tới lợi ích và tới khả năng sinh lời của phương án/dự án đó.
Vì vậy, công tác thẩm định sẽ giúp ngân hàng trong các việc sau: - Đánh giá được khả năng trả nợ và ý muốn trả nợ của khách hàng để phục vụ cho việc ra quyết định cho vay. - Dự báo những rủi ro có thể xảy ra và có biện pháp phòng ngừa rủi ro hoặc quản lý rủi ro thích hợp. Đối với khách hàng là người vay vốn: Người sẽ trực tiếp thực hiện kế hoạch kinh doanh/đầu tư. Trong thực tế không phải khách hàng nào khi chuẩn bị một kế hoạch kinh doanh/đầu tư gửi lên ngân hàng xin vay vốn là chắc chắn kế hoạch kinh doanh/đầu tư đó đã thực sự có tính khả thi.
Nguyên nhân có thể xuất phát từ chính năng lực lập kế hoạch của khách hàng hoặc do khả năng dự báo thị trường còn hạn chế. Vì thế, việc thẩm định lại kế hoạch kinh doanh/dự án của Ngân hàng sẽ có ý nghĩa lớn đối với khách hàng trong việc: Hoàn thiện công tác Thẩm định tín dụng tại Ngân hàng VPBank Luận văn Thạc sỹ khoa học 4 Nguyễn Thị Thuý - Một lần nữa nhận định lại khả năng sinh lợi và tính hiệu quả của phương án kinh doanh/dự án đầu tư khi nó được đưa vào thực hiện để khách hàng có những điều chỉnh hợp lý và đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn hơn, mang lại lợi ích cao nhất. - Là cơ sở để khách hàng dự đoán về mặt tài chính, kiểm tra, kiểm soát hoạt động, quản lý doanh nghiệp khi có thêm kế hoạch kinh doanh mới. Đối với các nhà đầu tư khác khi tham gia góp vốn: Họ là những người giao vốn của mình cho doanh nghiệp quản lý.
Do vậy, họ quan tâm trực tiếp đến giá trị của doanh nghiệp, tiền lợi đưa chia và thặng dư của vốn góp trong phương án đầu tư đó. Tuy nhiên, họ thường không hài lòng trước những tính toán về lợi nhuận kế toán, và cho rằng lợi nhuận thực tế mới là mục đích cuối cùng. Và khi Ngân hàng tham gia vào dự án như một cổ đông lớn của phương án kinh doanh/dự án đầu tư đó thì việc chắc chắn và tin tưởng vào khả năng mang lại lợi nhuận cho họ là cao. Và điều đó sẽ mang lại niềm tin vào năng lực và khả năng kinh doanh của công ty.
Đối với nhà cung cấp: Thẩm định tín dụng có mối quan hệ trực tiếp tới khả năng bán hàng và kết quả kinh doanh của nhà cung cấp thông qua kết quả thẩm định của ngân hàng. Từ đó, nhà cung cấp sẽ có các chính sách bán hàng và thanh toán hợp lý để nhanh chóng thu hồi vốn. Đối với khách hàng: Thẩm định tín dụng sẽ giúp họ xác định được khả năng, năng lực sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, mức độ uy tín của khách hàng để có quyết định ứng trước tiền hàng hay không. Đối với Nhà nước: Công tác thẩm định tín dụng có vai trò rất quan trọng trong việc đưa ra những quyết định tín dụng phù hợp với những quy định, những chính sách của Nhà nước.
Cũng thông qua thẩm định tín dụng, Cơ quan nhà nước có thể kiểm tra giám sát việc tuân thủ các quy định của pháp luật về hoạt động tín dụng tại Ngân hàng trong từng giai đoạn. Từ những khía cạnh nêu trên cho thấy: Thẩm định tín dụng có vai trò hết sức quan trọng trong việc ra quyết định cấp tín dụng của Ngân hàng, đồng thời kết quả Hoàn thiện công tác Thẩm định tín dụng tại Ngân hàng VPBank Luận văn Thạc sỹ khoa học 5 Nguyễn Thị Thuý của công tác này được ứng dụng trong nhiều trường hợp khác nhau tùy theo những mục đích khác nhau. Chính vì vậy mà thẩm định tín dụng đã thể hiện được vai trò đặc biệt quan trọng của mình trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHÍNH CỦA CÔNG TÁC TĐTD TẠI NGÂN HÀNG 1.1 Mục tiêu của thẩm định tín dụng Thẩm định tín dụng cố gắng phân tích và hiểu tính khả thi thực sự của dự án về mặt kinh tế đứng trên góc độ của Ngân hàng. Khi lập kế hoạch kinh doanh/dự án đầu tư, khách hàng mong muốn được vay vốn có thể đã thổi phồng và đẫn đến ước lượng quá lạc quan về hiệu quả kinh tế của phương án/dự án đó.
Do vậy, thẩm định tín dụng cần phải xem xét đánh giá đứng thực chất của kế hoạch đó. Tuy nhiên không phải vì thế mà thẩm định tín dụng ước lượng một cách quá bi quan khiến cho hiệu quả phương án/dự án bị giảm sút đến nỗi quyết định không cho vay. Mục đích của thẩm định tín dụng là đánh giá một cách chính xác và trung thực khả năng trả nợ của khách hàng để làm căn cứ quyết định cho vay.