CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬ N c ơ BẢN VỂ CÔ NG TÁC T H Ẩ M Đ Ị N H D ự Á N V A Y V Ố N T ÍN D Ụ N G Đ Ầ U T ư P H Á T T R IỂ N C Ủ A N H À N Ư Ớ C 1. T h ự c c h ấ t v à v a i tr ò c ủ a v ố n tín d ụ n g đ ầ u tư p h á t triển củ a N h à nước. Thực chất và đặc điểm vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Tín dụng là quan hệ vay trả. Tín dụng Nhà nước là các hoạt động vay trả giữa Nhà nước với các tác nhân hoạt động trong nền kinh tế, phục vụ cho mục đích của Nhà nước.
Khác với các loại hình thức tín dụng khác, tín dụng Nhà nước không phục vụ các đối tượng kinh tế đơn thuần mà nhằm vào các đối tượng vừa có tính chất kinh tế, vừa có tính chất xã hội, để thực hiện vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định. Cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, tín dụng Nhà nước ra đời từ rất sớm. Tuy nhiên, tín dụng Nhà nước trong giai đoạn đầu chủ yếu là các loại tín dụng phi kinh tế, nhằm mục đích chi tiêu của Nhà nước, là nguyên nhân tiềm ẩn của việc tăng thuế và lạm phát trong tương lai, nên hầu như có tính cưỡng chế. Để đáp ứng được hai tính chất trên, tín dụng đầu tư Nhà nước phải có cả chức năng phân phối của tài chính (phân phối, cấp phát) và chức năng tín dụng của ngân hàng.
Tín dụng Nhà nước là tín dụng đầu tư của Nhà nước cho vay đầu tư với lãi suất un đãi theo kế hoạch của Nhà nước hoặc theo mục tiêu, định hướng của Nhà nước. Đối tượng của tín dụng đầu tư Nhà nước thường là các lĩnh vực then chốt, trọng điểm của các ngành, các vùng để làm mồi tạo đà đối với phát triển kinh tế - xã hội, nhưng khả năng sinh lời thấp, quy mô đầu tư vốn quá lớn, hoặc quá mạo hiểm đối với nhà đầu tư. Do đó được Nhà nước định hướng khuyến khích và ưu tiên đầu tư trong từng thời kỳ với lãi suất ưu đãi thấp hơn lãi suất thị trường có tín dụng thương mại. 4 Khái niệm tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước chỉ ra đời khi mục đích tín dụng của Nhà nước chuyển từ chi tiêu sang đầu tư dưới dạng cho vay có hoàn lại.
Tính kinh tế của hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước xuất hiện khi các hoạt động đầu tư phát triển được sử dụng từ nguồn vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước để tạo ra nguồn thu có khả năng hoàn trả khoản vốn đã sử dụng. Đây cũng chính là lý do khiến cho tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước không chỉ là công cụ củng cố tiềm lực tài chính Quốc gia mà còn là công cụ để Nhà nước có thể thực hiện vai trò điều tiết vĩ mô. Giống như các hình thức tín dụng khác, cơ chế tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước không chỉ giúp tập trung được nguồn vốn cần thiết nền tảng cho Nhà nước tiến hành điều tiết nền kinh tế, mà còn có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo toàn và phát triển được nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. Qua đó, Nhà nước có thể mở rộng và chủ động trong vấn đề đầu tư phát triển.
Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước do Nhà nước quản lý, cho vay theo chủ trương của Nhà nước, vì lợi ích của Nhà nước và được Nhà nước cho hưởng chế độ ưu đãi về lãi suất. Do vậy tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước khác với tín dụng thương mại những điểm sau: Tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước sẽ tập trung vào các lĩnh vực then chốt, có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân cả nước, hoặc một ngành, một vùng, một khu vực. Tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước sẽ tập trung vào các lĩnh vực mà tín dụng thương mại với mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận có thể không giải quyết được (do hiệu quả trực tiếp của nhà đầu tư không được đảm bảo, hoặc quy mô nguồn vốn quá lớn, thời gian thu hút vốn đầu tư dài .) để giải quyết các vấn đề xã hội của đất nước như: Giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo điều chỉnh các cơ cấu kinh tế. Lãi suất cho vay do Nhà nước quy định phù hợp với nhu cầu và mục tiêu phát triển kinh tế từng thời kỳ, từng đối tượng đầu tư mà Nhà nước cần khuyến khích đầu tư.
Lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng thương mại là lãi suất thị trường. Tuy nhiên, lãi suất của nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển 5 của Nhà nước cũng bị hưởng bởi lãi suất thị trường và không được thấp hơn tỷ lệ lạm phát. Đối tượng cho vay của vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là rất hẹp, chỉ cho vay đối với các dự án đầu tư theo chủ trương của Nhà nước nằm trong kế hoạch đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước. Đối tượng cho vay của các tổ chức tín dụng thương mại rộng lớn, ngoài cho vay đầu tư còn cho vay vốn lưu động và các hoạt động khác miễn là đảm bảo an toàn vốn vay, chấp nhận lãi suất vay, đủ khả năng trả nợ cả gốc và l ã i.
Mục đích của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là hỗ trợ các dự án đầu tư phát triển của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực, chương trình kinh tế lớn của Nhà nước và các vùng khó khăn cần khuyến khích đầu tư. Mục tiêu của tín dụng thương mại là kinh doanh đủ bù đắp chi phí hoạt động và có lãi. Cơ quan quản lý tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước thuộc hệ thống tô chức Nhà nước do Nhà nước thành lập và chỉ đạo cả về nghiệp vụ cũng như tổ chức hành chính nhân sự (nay là Quỹ Hỗ trợ phát triển). Tổ chức quản lý tín dụng thương mại đa dạng (của Nhà nước hoặc của các thành phần kinh tế khác, liên doanh, ngân hàng cổ phần .) Nhà nước cấp vốn pháp định, cấp bù chênh lệch lãi suất để Quỹ hỗ trợ phát triển hoạt động theo điều kiện quy định của Nhà nước.
Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước chỉ cho vay đầu tư đối với các dự án, không cho vay vôn lưu động. Chính sách và cơ chê hoạt động của tổ chức cho vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước do Nhà nước quy định .2 Vai trò của vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là hoạt động vay trả giữa Nhà nước với các tác nhân hoạt động trong nền kinh tế, phục vụ cho mục đích của Nhà nước do đó nó có các vai trò sau: Thư nhát là, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà Nước là một công cụ sắc bén trong việc làm lành mạnh hoá nền tài chính tiền tệ quốc gia. 6 Đối với lĩnh vực tài chính, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có tác dụng tích cực trong việc tạo dựng và phân bổ nguồn vốn một cách hiệu quả cho hoạt động đầu tư thuộc trách nhiệm của tài chính Quốc gia. Việc tập trung phân bổ nguồn vốn luôn là hai mặt của một vấn đề, có tác dụng hỗ trợ, thúc đẩy nhau cùng phát triển.
Nếu việc sử dụng nguồn vốn được thực hiện không có hiệu quả dưới hình thức cấp phát thì khả năng huy động nguồn vốn và can thiệp vào nền kinh tế của Nhà nước rất hạn chế. Nếu huy động vốn bằng các hình thức tăng thuế, phí, lệ phí.thì không nhũng mục đích huy động nguồn vốn khó có thể đạt được, mà nền sản xuất có thể bị bóp méo. Trong cả hai trường hợp, sự phát triển của nền tài chính Quốc gia đều bị đe doạ. Ngược lại, vấn đề được giải quyết một cách hiệu quả bằng cơ chế tín dụng.
Tính chất đòn bẩy đi từ cơ chế sử dụng nguồn vốn hiệu quả tới hoạt động huy động vốn. Trên thị trường, động cơ đầu tư vào tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cũng tăng lên do các nguy cơ về lạm phát tiềm ẩn (hình thành do vấn đề chi tài chính Quốc gia không hiệu quả, tiền tệ hoá thâm hụt Ngân sách. Như vậy, tính cưỡng chế trong hoạt động vay mượn của Nhà nước trên thị trường không cần thiết nữa. Thực tế, với các công cụ nợ của Nhà nước hiện nay như trái phiếu, tín phiếu.Nhà nước đã có thể tập trung một cách nhanh chóng một khối lượng vốn theo nhu cầu với thời hạn dài và chi phí không cao.
Khả năng này sẽ giúp Nhà nước chủ động trong việc điều tiết vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kéo theo sự cải thiện tiềm lực tài chính quốc gia. Việc ra đời của cơ chế tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước còn là một tác nhân quan trọng trên thị trường tài chính, đó là sự phát triển của thị trường chứng khoán và của khu vực các thể chế tài chính phi ngân hàng (công ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ đầu tư .) Trái phiếu chính phủ với quy mô lớn, tính thanh khoản cao đã trở thành một công cụ cơ bản trên thị trường chứng khoán và lãi suất chứng khoán Chính phủ đã trở thành mức lãi suất chỉ đạo trên thị trường tài chính. Ớ đây một lần nữa, cần khẳng định rằng, không chỉ hoạt động huy động vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước làm phát 7 triển thị trường chứng khoán, mà tác dụng đòn bẩy đi từ hiệu quả của việc sử dụng nguồn vốn bằng cơ chế tín dụng đã tạo ra tính an toàn cho chứng khoán Chính phủ, thúc đẩy sự phát triển của hoạt động huy động vốn nói riêng và thị trường vốn nói chung. Chỉ có tính hiệu quả của các hoạt động đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước mới tạo ra được nguồn thu để trang trải các nghĩa vụ nợ, xoá bỏ hoàn toàn cơ chế tiền tệ hoá thâm hụt Ngân sách, loại bỏ nguy cơ lạm phát tiểm ẩn, bảo đảm giá trị của đồng tiền, lúc đó việc huy động nguồn vốn dài hạn mới tồn tại và phát triển được.