CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH CHO VAY CÁC DNV&N TẠI NHNN & PTNT HUYỆN QUẢNG TRẠCH 1.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NHNN & PTNT HUYỆN QUẢNG TRẠCH 1. Vị trí địa lý và môi trường kinh doanh của NHNN & PTNT huyện Quảng Trạch Trụ sở của NHNN & PTNT huyện Quảng Trạch được đặt tại trung tâm thị trấn Ba Đồn, thuộc một Huyện khá phát triển của tỉnh Quảng Bình. Cơ sở hạ tầng của Thị trấn Ba Đồn trong những năm gần đây đã được nâng cấp đáng kể, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế địa phương. Từ đó, nâng cao hiệu quả huy động vốn của NHNN & PTNT huyện Quảng Trạch.
NHNN & PTNT huyện Quảng Trạch hoạt động trong một môi trường khá cạnh tranh. Hiện tại, trên địa bàn hoạt động của NHNN & PTNT huyện Quảng Trạch có đến 6 ngân hàng cùng đặt trụ sở giao dịch khá gần nhau. Đối diện với NHNN & PTNT huyện Quảng Trạch đó là trụ sở của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Quảng Bình - Trực thuộc trung ương. Ngoài ra còn có VPB – Ngân hàng ngoài quốc doanh, VBSP- Ngân hàng Chính sách xã hội, VietinBank – Ngân hàng Công thương, SacomBank – Ngân hàng Sài Gòn thương tín.
Chính vì vậy áp lực cạnh tranh luôn đè lên vai của NHNN & PTNT huyện Quảng Trạch đồng thời đó cũng là động lực thúc đầy NHNN & PTNT huyện Quảng Trạch tự củng cố, đổi mới chính mình để tăng sức cạnh tranh của chính mình. Cơ cấu tổ chức, nhân sự: Hiện nay, cơ cấu tổ chức của NHNN & PTNT huyện Quảng Trạch tương đối gọn nhẹ và đơn giản, bao gồm: 2 phòng nghiệp vụ, 1 tổ nghiệp vụ và 3 phòng giao dịch đến tận các xã trong huyện Quảng Trạch. 4 Sơ đồ 1: Mô hình tổ chức bộ máy quản lý GIÁM ĐỐC Phó Giám đốc Hệ thống ban chuyên môn nghiệp vụ Phòng Phòng Phòng Phòng Phòng kinh kế toán Tổ hành giao dịch giao dịch giao dịch doanh và ngân chính Hoà Roòn Chợ Ba quỹ nhân sự Ninh Đồn Về nhận sự, hiện tại NHNN & PTNT – huyện Quảng Trạch gồm có 54 người, trong đó trình độ đại học gồm 46 người, chiếm 85,19%; trình độ cao đẳng, trung cấp gồm 6 người, chiếm 11,11%; bảo vệ và lái xe có 2 người, chiếm 3,70%. Tình hình hoạt động kinh doanh của NHNN & PTNT huyện Quảng Trạch trong những năm gần đây 1.
Tình hình huy động vốn Qua các năm, tổng vốn huy động của NHNN & PTNT huyện Quảng Trạch đếu có mức tăng trưởng ổn định, riêng năm 2009 đã tăng 18,28% so với năm 2008. Tình hình huy động vốn của NHNN & PTNT huyện Quảng Trạch được phản ánh cụ thể qua bảng sau: 5 Bảng 1: Tình hình huy động vốn So sánh Năm 2008 2009 năm 2009 Chỉ tiêu với năm 2008 ( Đvt: triệu đồng) Tổng vốn huy động tính ra VND 237. Tổng vốn huy động bằng VND 232.183,47 + 18,12% - Tiền gửi của Kho bạc Nhà nước 27.367,08 - 3,80% - Tiền gửi của các TCTD 1.547,57 893,57 - 42,26% - Tiền gửi của khách hàng 202.962,76 + 15,98% - Phát hành giấy tờ có giá 575,84 11. Tổng vốn huy động ngoại tệ tính ra USD 318.122,75 + 25,25% - Tiền gửi của Kho bạc Nhà nước 0 0 - Tiền gửi của các TCTD 0 0 - Tiền gửi của khách hàng 317.122,75 + 25,65% - Phát hành giấy tờ có giá 1.020,00 - 100,00% ( nguồn: Bảng cân đối kế toán ngân hàng) Qua bảng trên, cho thấy tính đến ngày 31/12/2009, tổng vốn huy động của NHNN & PTNT huyện Quảng Trạch tính ra đồng Việt Nam đạt 280.649,26 triệu đồng tăng 43.368,55 triệu đồng (tăng 18,28%) so với 31/12/2008.
Trong đó vốn huy động bằng nội tệ đóng vai trò chủ đạo, chiếm 97,82%; còn vốn huy động bằng ngoại tệ chỉ chiếm một phần rất nhỏ là 2,18%. Tuy nhiên, do tình hình mất giá đồng nội tệ nên năm 2009 vốn huy động bằng ngoại tệ đã tăng lên 25,65% so với năm 2008, trong khi đó vốn huy động nội tệ chỉ tăng 18,28% so với năm 2008. a) Huy động vốn bằng nội tệ VND: Tổng vốn huy động bằng VND của NHNN & PTNT huyện Quảng Trạch tính đến ngày 31/12/2009 là 274.183,47 triệu đồng, tăng 42.064,97 triệu đồng (+18,12%) so với năm 2008. Vốn bằng VND được huy động từ bốn nguồn đó là: từ Kho bạc nhà 6 nước, từ các TCTD, từ dân cư và từ việc phát hành giấy tờ có giá.
Trong đó, tiền gửi của khách hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất là 87,28%, kế đến là tiền gửi của Kho bạc nhà nước chiếm 11,81%, tiền gửi của các TCTD và phát hành giấy tờ có giá còn khá khiêm tốn, chỉ đạt lần lượt 0,67% và 0,25%. Năm 2009, NHNN & PTNT huyện Quảng Trạch tăng cường phát hành giấy tờ có giá, huy động được 11.960,06 triệu đồng, tăng 11.384,22 triệu đồng (+1976,98%) so với năm 2008. Sỡ dĩ như vậy, vì trong năm qua, Việt Nam bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nguy cơ lạm phát tăng cao. Việc phát hành các giấy tờ có giá thu hút tiền đang lưu thông, giảm lượng tiền mặt trên thị trường nhằm đẩy lùi nguy cơ lạm phát Nguồn huy động chủ yếu trong tiền gửi của khách hàng đó là tiền gửi tiết kiệm có kì hạn chiếm 95,67%, trong đó tiền gửi tiết kiệm có kì hạn dưới 12 tháng là 73,37%, tiền gửi tiết kiệm có kì hạn từ 12 tháng đến dưới 24 tháng là 22,00%, và 4,63% là tiền gửi tiết kiệm có kì hạn trên 24 tháng.
Được minh hoạ qua biểu đồ hình tròn như sau: Biểu đồ 1: Cơ cấu nguồn tiền gửi tiết kiệm có kì hạn bằng VND Năm 2009 Cơ cấu nguồn tiền gửi tiết kiệm có kì hạn bằng VND năm 2009 4,63% Dưới 12 tháng 22,00% Từ 12 đến 24 tháng Trên 24 tháng 73,37% b) Huy động vốn bằng ngoại tệ, quy đổi ra USD: Tổng vốn huy động bằng ngoại tệ quy đổi ra USD của NHNN & PTNT huyện Quảng Trạch tính đến ngày 31/12/2009 là 399.467,97USD (+25,25%) so với cùng kì năm 2008. Nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ chỉ có được từ nguồn tiền gửi của khách hàng và từ việc phát hành giấy tờ có giá. Trong đó, tiền gửi 7 của khách hàng đạt 399.487,97 USD (+ 25,65% ) so với năm 2008. Năm 2009, NHNN & PTNT huyện Quảng Trạch không phát hành giấy tờ có giá bằng ngoại tệ trong khi đó, năm 2008 phát hành được 1.
Cũng như nguồn huy động bằng nội tệ, nguồn huy động ngoại tệ chủ yếu là từ tiền gửi tiết kiệm có kì hạn ( chiếm gần như tuyệt đối là 99,98% ), trong đó tiền gửi tiết kiệm có kì hạn dưới 12 tháng là 61,29% , tiền gửi tiết kiệm có kì hạn từ 12 tháng đến dưới 24 tháng là 35,19% , 3,52% còn lại là tiền gửi tiết kiệm có kì hạn từ 24 tháng trở lên. Được minh hoạ qua biểu đồ sau: Biểu đồ 2: Cơ cấu nguồn tiền gửi tiết kiệm có kì hạn bằng USD năm 2009 1. Hoạt động cho vay Hiện NHNN & PTNT huyện Quảng Trạch chủ yếu hỗ trợ nhu cầu vay vốn ngắn hạn, trung hạn bằng VND cho những khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, hộ sản xuất và các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế, đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, thương mại, dịch vụ. 8 Bảng 2: Thống kê cho vay (Đvt: triệu đồng) Chỉ tiêu 2007 2008 2009 1.
Doanh số cho vay 224.729 - Doanh số cho vay ngắn hạn 188.648 - Doanh số cho vay trung hạn 35. Doanh số thu nợ 185.789 - Doanh số thu nợ ngắn hạn 134.698 - Doanh số thu nợ trung hạn 50.054 - Dư nợ ngắn hạn 146.207 - Dư nợ trung hạn 70. Số lượng món cho vay 9.179 ( Nguồn: Thống kê cho vay theo thành phần kinh tế) Qua bảng trên cho thấy doanh số cho vay, doanh số thu nợ cũng như tổng dư nợ và nợ xấu của NHNN & PTNT huyện Quảng Trạch tăng đều trong ba năm qua. Cụ thể như sau: Doanh số cho vay : Năm 2008 doanh số cho vay tăng 35,57% so với năm 2007, trong đó doanh số cho vay ngắn hạn tăng 51,27% trong khi đó doanh số cho vay trung hạn giảm 46,81%.
Đến năm 2009, doanh số cho vay tăng 33,43%, tốc độ tăng bé hơn so với tốc độ tăng doanh số cho vay của năm 2008 là 2,14%. Năm 2009, cơ cấu cho vay đã có sự thay đổi ngược chiều so với năm 2008 bằng việc cho vay trung hạn tăng đến 398,04% trong khi đó, doanh số cho vsy ngắn hạn chỉ tăng khiếm tốn với 9,01%. Doanh số thu nợ : Năm 2008 doanh số thu nợ tăng 42,76% so với năm 2007, trong đó doanh số thu nợ ngắn hạn tăng 85,18% và doanh số thu nợ trung hạn lại giảm 69,68%. Năm 2009, doanh số thu nợ chỉ tăng được 26,54% và có sự biến động lớn trong cơ cấu thu nợ như cơ cấu cho vay.
Đó là sự tăng lên ấn tượng của doanh số thu nợ trung hạn, tăng 276,33% so với năm 2008. Doanh số thu nợ ngắn hạn của năm 2009 có tăng so với năm 2008 nhưng không nhiều, chỉ được 11,11%. 9 Tổng dư nợ: Tổng dư nợ của năm 2009 tăng 28,09% so với năm 2008, trong đó dư nợ ngắn hạn tăng 18,73% và dư nợ trung hạn tăng 51,00%. Trước đó, tổng dư nợ của năm 2008 tăng 17,42% so với năm 2007.
Dư nợ ngắn hạn và trung hạn của năm 2008 tương ứng tăng 23,36% và 5,04% so với năm 2007. Số lượng món cho vay: Năm 2008, số lượng món cho vay đã giảm đi 13,13% so với năm 2007 .Sở dĩ như vậy bởi trong năm 2008, sự đi xuống của thị trường chứng khóan, thị trường bất động sản làm tăng tâm lý lo ngại trong các nhà đầu tư, khiến hoạt động cho vay bị ảnh hưởng xấu. Đến năm 2009, những dấu hiệu hồi phục rõ nét cùng với những chương trình điều chỉnh lãi suất linh hoạt khiến lượng khách hàng đến vay và số lượng món cho vay tăng 2,10% so với năm 2008 Nợ xấu: Bên cạnh việc số lượng món cho vay tăng lên so với năm 2008, thì tỷ lệ nợ xấu của năm 2009 cũng tăng đáng kể, cụ thể nợ xấu tăng 47,58% so với năm 2008. Trong khi đó, nợ xấu của năm 2008 tăng 15,34% so với năm 2007.
Thực trạng cho vay của NHNN & PTNT huyện Quảng Trạch qua 3 năm 2007, 2008, 2009 được minh hoạ qua biểu đồ sau: Biểu đồ 3: Thực trạng cho vay qua các năm Bên cạnh việc cho vay thông thường, NHNN & PTNT huyện Quảng Trạch còn thực hiện cho vay cầm cố đối với các cá nhân có số dư tiền gửi tại Ngân hàng nhằm mục đích kinh doanh hoặc tiêu dùng hợp pháp.